Đặt cùng lúc 5 stent động mạch giúp bệnh nhân Campuchia thoát nguy cơ vỡ mạch

Các bác sỹ đã đặt 5 stent graft, bao gồm stent graft chính ở thân chính ngay dưới 2 động mạch thận và 4 stent graft phụ từ thân chính stent graft vào động mạch chậu ngoài hai bên cho bệnh nhân.

Ngày 10/2, thông tin từ Bệnh viện Gia An 115, Thành phố Hồ Chí Minh, các bác sỹ chuyên khoa tim mạch của đơn vị này vừa đặt thành công cùng lúc 5 stent graft nội mạch giúp bệnh nhân người Campuchia thoát khỏi nguy cơ vỡ mạch.

Trước đó, ông P.S (78 tuổi, quốc tịch Campuchia) đến Bệnh viện Gia An 115 khám do đau bụng.

Kết quả cận lâm sàng ghi nhận bệnh nhân bị phình động mạch chủ bụng ở đoạn dưới động mạch thận, khối phình hình thoi và có kích thước 6,3cm. Tình trạng phình kéo dài tới động mạch chậu chung hai bên (phình 3cm).

Ngoài ra, người bệnh còn có huyết khối bám thành động mạch chậu chung bên phải.

Bác sỹ Dương Duy Trang, Phó Giám đốc Y khoa kiêm Trưởng Khoa Nội Tim mạch-Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Gia An 115 đánh giá đây là một tổ hợp nguy cơ cao, trong đó nghiêm trọng nhất là khối phình lớn. Ngoài ra, phình kéo dài xuống động mạch chậu chung khiến việc can thiệp trở nên phức tạp hơn.

Theo bác sỹ Trang, động mạch chủ bình thường có đường kính khoảng 18mm, khi bị giãn từ 3cm trở lên được xem là phình và nếu vượt quá 5cm thì nguy cơ vỡ túi phình có thể tăng đến 10% mỗi năm.

Với kích thước túi phình 6,3cm, bệnh nhân P.S đứng trước nguy cơ vỡ mạch lên tới 15-20% mỗi năm nếu không được can thiệp.

Cùng với triệu chứng đau bụng, nguy cơ bệnh nhân bị vỡ túi phình cấp tính bất cứ lúc nào.

“Nếu vỡ túi phình mà bệnh nhân không kịp đến bệnh viện, tỷ lệ tử vong gần như 100%," bác sỹ Trang nhìn nhận.

Sau hội chẩn, các bác sỹ quyết định đặt stent graft nội mạch - được xem là hướng tiếp cận tối ưu hiện nay, nhờ khả năng kiểm soát chính xác vùng tổn thương mà không cần mở ổ bụng.

So với phẫu thuật mổ mở đòi hỏi cắt và thay đoạn mạch bị phình thì kỹ thuật này rút ngắn thời gian can thiệp, giảm mất máu và rủi ro nhiễm trùng, đặc biệt phù hợp với người lớn tuổi, bệnh nhân có bệnh nền tim mạch hoặc suy thận.

Tuy nhiên, khác với stent nong mạch được sử dụng trong điều trị hẹp tắc mạch vành, stent graft dùng để điều trị phình động mạch chủ bụng có kích thước lớn và cấu trúc phức tạp hơn nhiều. Đây cũng là một trong những kỹ thuật can thiệp khó nhất trong tim mạch.

Riêng trường hợp của bệnh nhân P.S, do túi phình không dừng ở đoạn dưới động mạch thận mà kéo dài xuống tận hai nhánh chậu nên các bác sỹ không thể chỉ đặt một stent graft thân chính, mà phải phối hợp thêm các stent graft phụ nối từ thân chính xuống động mạch chậu hai bên.

Việc này đòi hỏi bác sỹ phải “lắp ghép” chính xác để các đoạn stent ăn khớp tuyệt đối, đảm bảo dòng máu lưu thông liên tục. Chỉ cần lệch nhẹ, máu có thể rò ra ngoài hoặc gây tắc dòng chảy xuống chi dưới.

Các bác sỹ đã đặt thành công 5 stent graft, bao gồm stent graft chính ở thân chính ngay dưới 2 động mạch thận và 4 stent graft phụ từ thân chính stent graft vào động mạch chậu ngoài hai bên.

Sau can thiệp, người bệnh hồi phục tốt, tái khám sau 20 ngày cho thấy stent graft hoạt động ổn định, không có dấu hiệu rò máu ngoài stent.

Chia sẻ trong lần tái khám, ông P.S không giấu được sự vui mừng sau khi được các bác sỹ Việt Nam giúp “thoát hiểm”: “Tôi thật sự may mắn vì sang Việt Nam và được can thiệp kịp thời bằng phương pháp hiện đại, nhờ đó tránh được biến cố nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi rất biết ơn các bác sỹ Việt Nam.”

Theo bác sỹ Dương Duy Trang, phình động mạch chủ bụng thường tiến triển âm thầm và chỉ biểu hiện khi tình trạng phình nặng, nguy cơ biến chứng cao, với các triệu chứng như đau bụng, đau lưng hoặc cảm giác nặng tức. Vì vậy, người trên 60 tuổi có yếu tố nguy cơ như có bệnh nền tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid hoặc có tiền sử hút thuốc lá… nên đi tầm soát mạch máu định kỳ.

Việc phát hiện sớm cho phép theo dõi tiến triển bệnh và can thiệp kịp thời khi có chỉ định, giúp người bệnh tránh được nguy cơ vỡ túi phình và biến chứng đe dọa tính mạng./.

(TTXVN/Vietnam+)