Đại biểu Quốc hội: Bình đẳng giới phải trở thành động lực tăng trưởng

Đại biểu Quốc hội nhấn mạnh vai trò của bình đẳng giới trong tăng trưởng, đề xuất giải pháp toàn diện để giảm khoảng cách giới và thúc đẩy phát triển.

Trong phiên thảo luận tại tổ ngày 10/4, bên cạnh các nội dung về kinh tế-xã hội, nhiều đại biểu Quốc hội đã tập trung cho ý kiến về tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025.

Trước thực trạng số vụ vi phạm về bình đẳng giới tăng mạnh trong năm 2025, các đại biểu chỉ ra nhiều vấn đề từ thực thi pháp luật, trách nhiệm cơ quan chức năng đến tác động của mạng xã hội và định kiến xã hội, qua đó đặt ra yêu cầu phải có giải pháp mạnh mẽ, toàn diện hơn.

Nhiều chỉ tiêu đạt cao nhưng còn khoảng trống lớn ở cơ sở

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong công tác bình đẳng giới thời gian qua.

Nhiều chỉ tiêu quan trọng đã đạt và vượt mục tiêu, như tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh đạt 82,35%, cấp bộ đạt 59,16%; tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đạt 52,1%; hơn 90% nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ; tỷ lệ tử vong mẹ giảm còn 42/100.000 ca sinh.

Theo đại biểu, những con số này cho thấy công tác bình đẳng giới đã có chuyển biến rõ nét trong thực tiễn.

Tuy nhiên, bà Nga cũng chỉ ra 4 vấn đề mang tính nền tảng. Thứ nhất, kết quả chưa thật sự bền vững, đặc biệt ở cấp cơ sở. Trong khi tỷ lệ nữ lãnh đạo cấp tỉnh và cấp bộ ở mức cao, tỷ lệ này ở cấp xã mới đạt 43,3%, thấp hơn mục tiêu đề ra. Điều đó cho thấy khoảng cách giữa thành tích chung và thực tiễn ở cấp gần dân nhất vẫn còn lớn.

Thứ hai, những nguyên nhân mang tính cấu trúc chưa được xử lý đầy đủ. Phụ nữ hiện vẫn dành thời gian cho công việc nội trợ và chăm sóc gia đình cao gấp 1,68 lần nam giới, làm thu hẹp cơ hội học tập, việc làm và tham gia lãnh đạo.

Thứ ba, dữ liệu và phương thức đánh giá còn là điểm nghẽn. Một số chỉ tiêu quan trọng chưa có số liệu đầy đủ; nhiều số liệu mới phản ánh số lượng mà chưa phản ánh chất lượng, như thu nhập, điều kiện lao động và tính bền vững của việc làm đối với lao động nữ.

Thứ tư, cơ chế gắn trách nhiệm với kết quả thực hiện còn chưa rõ. Khi chỉ tiêu không đạt, chưa xác định rõ trách nhiệm thuộc về cơ quan nào, cấp nào, khâu nào.

Một vấn đề khác được đại biểu Việt Nga đặc biệt lưu ý là khoảng trống chính sách đối với người đồng giới và người chuyển giới.

Theo bà, phần lớn chính sách hiện nay vẫn tiếp cận giới theo hai nhóm nam và nữ, trong khi thực tiễn xã hội đã mở rộng hơn.

“Dịch vụ y tế cho người chuyển giới mới đạt 14,7%, chưa đạt mục tiêu, chưa có phân tích sâu và giải pháp cụ thể. Điều này cho thấy vẫn còn khoảng trống chính sách đối với nhóm đối tượng này,” đại biểu Nga nêu.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng). Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Từ đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga kiến nghị chuyển mạnh công tác bình đẳng giới từ tư duy khuyến khích sang tư duy ràng buộc trách nhiệm; kết quả thực hiện phải trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng quản trị và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu giới đồng bộ, hiện đại, phản ánh đúng thực chất; đồng thời có chính sách tạo nguồn, đào tạo và hỗ trợ cán bộ nữ ở cấp cơ sở.

Đầu tư cho bình đẳng giới là đầu tư cho tăng trưởng

Cũng đồng tình với nhận định trên, đại biểu Trần Lan Phương (đoàn Hải Phòng) - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 10% giai đoạn 2026 - 2030, việc lãng phí nguồn lực lao động nữ đang trở thành một rào cản kinh tế đáng kể.

Theo đại biểu, khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ hiện ở mức 2,3 triệu đồng/tháng, trong khi phụ nữ vẫn gánh khối lượng công việc gia đình cao gấp 1,68 lần nam giới. Đây không chỉ là vấn đề an sinh xã hội mà còn tác động trực tiếp đến năng suất và tăng trưởng.

Dẫn số liệu của Liên hợp quốc, bà Phương cho biết nếu thu hẹp được khoảng cách số về giới, thế giới có thể tạo thêm 1,5 nghìn tỷ USD cho GDP toàn cầu vào năm 2030.

“Bình đẳng giới không còn chỉ là vấn đề an sinh mà phải được nhìn nhận là vấn đề hiệu quả kinh tế. Đầu tư cho bình đẳng giới chính là đầu tư cho tăng trưởng”, đại biểu nhấn mạnh.

Từ đó, bà đề nghị Chính phủ nghiên cứu các gói hỗ trợ đặc thù như “tín dụng xanh cho phụ nữ” và “chuyển đổi số cho doanh nghiệp nữ”, nhằm tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng). Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Đại biểu cũng đồng tình với kiến nghị của Ủy ban Văn hóa-Xã hội của Quốc hội về việc sớm sửa đổi Luật Bình đẳng giới. Bà Phương đề nghị Chính phủ cần khẩn trương nghiên cứu, trình Quốc hội sửa đổi toàn diện luật này ngay trong năm 2026 để phù hợp với thực tiễn, các cam kết quốc tế và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thay vì chờ đến năm 2028 như lộ trình hiện nay.

Vùng sâu, vùng xa còn nhiều rào cản với phụ nữ

Cũng tại phiên thảo luận tổ, đại biểu Cil Bri (đoàn Lâm Đồng) cho rằng công tác bình đẳng giới hiện vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo đại biểu, bất bình đẳng giới vẫn hiện hữu trong các lĩnh vực việc làm, thu nhập và cơ hội tham gia lãnh đạo, quản lý.

Định kiến giới và tư tưởng truyền thống còn khá phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội phát triển của phụ nữ.

Đại biểu cho biết tại nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa của Lâm Đồng, phụ nữ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Một số tập quán truyền thống cùng điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế tiếp tục là rào cản đối với phụ nữ và trẻ em gái.

Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và khó khăn trong tiếp cận việc làm sau đào tạo vẫn là những vấn đề đáng lo ngại.

Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở cơ sở còn hạn chế do nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu.

Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới phần lớn kiêm nhiệm nên chưa phát huy đầy đủ vai trò tham mưu và triển khai chính sách.

Công tác theo dõi, thống kê, tổng hợp số liệu cũng chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; việc thu thập, phân tách và cập nhật dữ liệu còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc đánh giá kết quả và xây dựng giải pháp.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị các bộ, ngành Trung ương quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp, có tính đến yếu tố đặc thù của từng địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đồng thời, cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu và cập nhật kỹ năng lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ làm công tác này, qua đó nâng cao chất lượng tham mưu và hiệu quả thực thi chính sách./.

(Vietnam+)