Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Mở van nguồn lực cho tăng trưởng
Không chỉ là câu chuyện bán vốn nhà nước, cổ phần hóa đang được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, phát triển thị trường vốn và thu hút đầu tư tư nhân.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng là giải pháp quan trọng giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, thúc đẩy quản trị theo cơ chế thị trường và huy động thêm vốn tư nhân cho phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, tiến trình này vẫn chậm hơn kỳ vọng, trong khi nhu cầu nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026-2030 ngày càng cấp thiết.
Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước hồi đầu năm 2026 đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng hiệu quả, minh bạch, vận hành theo cơ chế thị trường; nhấn mạnh kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt ở lĩnh vực then chốt nhưng không duy trì chi phối ở những lĩnh vực thị trường có thể làm tốt hơn.
Tại hội thảo về kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân do Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 4/2026, Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Trọng Hoài cho rằng, câu chuyện cổ phần hóa đã được nhắc tới từ lâu nhưng quá trình triển khai liên tục bị kéo dài.
Cuối năm 2003, Vinamilk cổ phần hóa với mức định giá khoảng 100 triệu USD; đến năm 2006 niêm yết trên HOSE. Sau hơn một thập niên tăng trưởng theo mô hình công ty đại chúng, thương vụ thoái vốn của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) năm 2017 đã đưa định giá doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD.
Vinamilk thường được xem là một trong những điển hình thành công của cổ phần hóa tại Việt Nam, cho thấy tiềm năng gia tăng giá trị khi doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, tiếp cận chuẩn mực quản trị hiện đại và có sự tham gia của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, những trường hợp như vậy vẫn chưa nhiều.
Trong nhiều năm qua, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm, nhiều kế hoạch không hoàn thành đúng lộ trình. Câu chuyện cổ phần hóa vì thế không còn đơn thuần là bài toán bán vốn nhà nước mà ngày càng gắn với yêu cầu tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước.
Theo ông Hoài, một trong những vướng mắc lớn là định giá doanh nghiệp, đặc biệt với tài sản vô hình như thương hiệu, giá trị lịch sử hay lợi thế tích lũy của doanh nghiệp nhà nước lâu năm. Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật định giá.
Doanh nghiệp nhà nước thường liên quan tới nhiều nhóm lợi ích, lao động, nghĩa vụ pháp lý và các bên liên quan khác, khiến quá trình cổ phần hóa dễ rơi vào tình trạng “giằng kéo.” Bên cạnh đó, nhiều quy định chưa đủ rõ ràng, dẫn tới cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thực thi.
Một thực tế khác, theo khảo sát được ông Nguyễn Trọng Hoài dẫn lại là nhiều nhà đầu tư tư nhân cho rằng khi Nhà nước vẫn nắm 65% vốn, doanh nghiệp trên thực tế “không khác nhiều” so với mô hình 100% vốn nhà nước, bởi cơ chế quản trị vẫn mang nặng tính hành chính.
Ở góc nhìn thị trường, ông Lê Anh Tuấn, Tổng giám đốc Dragon Capital cho rằng, khó khăn lớn nhất nằm ở tư duy tiếp cận cổ phần hóa.
Theo ông Tuấn, nhiều thương vụ IPO (bán cổ phần lần đầu ra công chúng) vẫn đặt mục tiêu tối đa hóa số tiền thu về cho Nhà nước ngay tại thời điểm bán vốn, dẫn tới quá chú trọng vào việc xác định giá bán. Trong khi đó, mục tiêu cốt lõi của cổ phần hóa phải là nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và tạo ra giá trị dài hạn.
Đại diện Dragon Capital cho rằng thị trường cần cơ chế “khám phá giá” thông qua cung-cầu thực tế. Nhà nước có thể bán thử một phần cổ phần để thị trường định giá, sau đó tiếp tục thoái vốn khi doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Không chỉ liên quan tới hiệu quả doanh nghiệp, cổ phần hóa còn gắn chặt với sự phát triển của thị trường vốn và thị trường chứng khoán.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Hoàng Dương, cổ phần hóa là chủ trương lớn nhằm đổi mới quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, đồng thời góp phần phát triển thị trường vốn.
Khi niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, doanh nghiệp có cơ hội cải thiện minh bạch, chuẩn hóa hoạt động theo các tiêu chuẩn cao hơn về kiểm toán, quản trị và công bố thông tin; qua đó nâng cao uy tín, thuận lợi hơn trong huy động vốn.
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đã trở thành doanh nghiệp đầu ngành như Vinamilk, Sabeco, Vietnam Airlines hay các ngân hàng Vietcombank, VietinBank, BIDV.
Riêng trên HOSE hiện có gần 180 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong gần 400 doanh nghiệp niêm yết, chiếm khoảng 30% giá trị vốn hóa toàn sàn. Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, quá trình cổ phần hóa, IPO và phát hành thêm cổ phiếu cũng giúp bổ sung nguồn “hàng hóa” chất lượng cho thị trường chứng khoán.
Ở góc độ quản lý doanh nghiệp nhà nước, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài Chính), ông Vũ Hồng Phương cho biết, dù số lượng đã giảm mạnh sau tái cơ cấu, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ nguồn lực rất lớn.
Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hiện duy trì khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường; chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất kinh doanh và 23,4% giá trị tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn.
Trong khi đó, theo Bộ Tài chính, tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 40% GDP; trong đó khoảng 80% phải huy động ngoài ngân sách.
Điều đó cho thấy mục tiêu tăng trưởng cao khó có thể chỉ dựa vào vốn nhà nước. Trong bài toán này, cổ phần hóa, phát triển thị trường vốn và huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân được kỳ vọng trở thành một phần quan trọng của lời giải. Nhưng để tạo chuyển biến thực sự, điều thị trường chờ đợi không chỉ là thêm các kế hoạch cổ phần hóa, mà là thay đổi mạnh mẽ hơn về tư duy, cơ chế thực thi và mô hình quản trị./.
