Chuyên gia gợi ý những định hướng phát triển chuỗi giá trị đất hiếm Việt Nam
Phó Giáo sư Đặng Đức Huy (Viện Môi trường và Khoa Hóa học, Đại học Trent, Canada) đánh giá Việt Nam có tiềm năng đất hiếm đáng kể và cơ hội tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đang tăng tốc xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược, đất hiếm ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một nguồn tài nguyên mà còn là mắt xích quan trọng của các ngành công nghệ cao và quá trình chuyển đổi xanh.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Canada, Phó Giáo sư Đặng Đức Huy (Viện Môi trường và Khoa Hóa học, Đại học Trent, Canada) đánh giá Việt Nam có tiềm năng đất hiếm đáng kể và cơ hội tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, trữ lượng chỉ là điều kiện ban đầu; giá trị kinh tế lâu dài phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng làm chủ công nghệ tuyển, phân tách, tinh luyện và sản xuất vật liệu hàm lượng công nghệ cao ngay trong nước, thay vì chủ yếu khai thác và bán quặng thô.

Nhằm giúp Việt Nam chuyển dịch từ lợi thế tài nguyên sang năng lực công nghệ, Phó Giáo sư Đặng Đức Huy tóm lược 4 định hướng phát triển then chốt dựa trên kinh nghiệm quản lý khoáng sản chiến lược của Canada.
Thứ nhất là khai thác với hiệu suất cao hơn với việc tối ưu hóa quy trình công nghệ để thu hồi tối đa lượng tài nguyên ngay từ khâu thăm dò và đưa quặng lên khỏi mặt đất.
Thứ hai là chế biến sâu hơn qua việc đẩy mạnh năng lực phân tách, tinh chế và sản xuất các vật liệu, sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong nước để giữ lại giá trị gia tăng lớn nhất.
Thứ ba là kéo dài thời gian sử dụng vật liệu, nâng cao độ bền và tối ưu hóa hiệu quả ứng dụng của các sản phẩm chứa nguyên tố đất hiếm trong chuỗi sản xuất công nghiệp.
Và cuối cùng là thu hồi và tái chế khi hết vòng đời, cụ thể là xây dựng công nghệ tái chế để thu hồi đất hiếm từ rác thải điện tử, sản phẩm đã qua sử dụng, cũng như nghiên cứu tận dụng nguồn nguyên liệu thứ cấp từ bã quặng hay tro xỉ nhà máy nhiệt điện.
Qua khảo sát thực địa tại miền Bắc Việt Nam cùng đoàn công tác quốc tế vào năm 2024, Phó Giáo sư Đặng Đức Huy nhận thấy Việt Nam đã có những nhóm nghiên cứu năng lực. Tuy nhiên, khoảng trống lớn nhất hiện nay nằm ở sự phối hợp giữa nghiên cứu khoa học, công nghệ chế biến, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng. Một chương trình dài hạn kết nối các bên sẽ là nền tảng hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Do đặc tính phân tách đất hiếm phức tạp và dễ phát sinh chất thải, chuyên gia khuyến nghị Việt Nam cần xây dựng ngay dữ liệu nền về môi trường tại các lưu vực sông lớn và vùng duyên hải (như hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai) trước khi hoạt động khai thác phát triển mạnh.
Việc có số liệu nền ngay từ đầu sẽ giúp phân biệt chính xác nguồn phát thải tự nhiên với hoạt động con người, đưa bảo vệ môi trường trở thành tiêu chí xuyên suốt từ khâu thiết kế chính sách thay vì chỉ xử lý hậu quả.
Từ góc độ kinh tế, ông cho rằng Việt Nam cũng cần thay đổi cách nhìn về đất hiếm, từ một loại khoáng sản được khai thác theo mô hình tuyến tính sang một nguồn vật chất có thể được tuần hoàn trong nền kinh tế.
Phó Giáo sư Đặng Đức Huy nhấn mạnh kinh nghiệm phát triển khoáng sản chiến lược của Canada cũng đặt trọng tâm vào toàn bộ chuỗi, từ thăm dò, khai thác, chế biến đến sản xuất và tái chế, nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế. Đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo, song cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện trong nước. Theo ông, có thể tóm lược định hướng phát triển chuỗi giá trị đất hiếm bằng 4 yêu cầu: khai thác với hiệu suất cao hơn, chế biến sâu hơn, kéo dài thời gian sử dụng vật liệu và thu hồi đất hiếm khi sản phẩm hết vòng đời.
Khi những yêu cầu này được đặt ra ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách và lựa chọn công nghệ, bảo vệ môi trường sẽ không còn chỉ là biện pháp xử lý hậu quả, mà trở thành một tiêu chí xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.
Để rút ngắn khoảng cách công nghệ, Phó Giáo sư Đặng Đức Huy nhấn mạnh vai trò chiến lược của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Sự đóng góp của các nhà khoa học kiều bào không nhất thiết đo bằng việc trở về làm việc lâu dài, mà có thể thông qua việc tham gia các nhóm nghiên cứu chung, chia sẻ phương pháp phân tích, hỗ trợ tiếp cận thiết bị hiện đại và kết nối Việt Nam với các phòng thí nghiệm, trường đại học quốc tế.
Việc đặt ra các bài toán cụ thể về công nghệ phân tách, quan trắc môi trường, xử lý chất thải và tái chế để các nhóm phối hợp giữa nhà khoa học trong nước, trí thức kiều bào và chuyên gia quốc tế cùng giải quyết sẽ là con đường ngắn nhất giúp Việt Nam bảo đảm sự phát triển bền vững và tự chủ trong dài hạn./.
