Chia sẻ dữ liệu hạ tầng viễn thông phục vụ điều hành, ứng phó thiên tai

Theo đại biểu Quốc hội, thực tế triển khai hiện nay cho thấy chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu hạ tầng viễn thông với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương.

Theo chương trình Kỳ họp, sáng 7/8, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

Góp ý kiến vào dự thảo Luật Viễn thông, đại biểu Lê Thành Đông (Hà Tĩnh) đề nghị bổ sung quy định doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật viễn thông với các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành.

Theo đại biểu, thực tế triển khai hiện nay cho thấy chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu hạ tầng viễn thông với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Điều này cũng gây khó khăn trong công tác quản lý, khai thác dữ liệu thông tin phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Trong điều kiện bình thường, vấn đề này có thể chưa bộc lộ rõ, nhưng trong các tình huống thiên tai, bão lụt..., khi dữ liệu về cơ sở hạ tầng chưa được chia sẻ một cách chi tiết và chưa có cơ chế rõ ràng, công tác điều hành, điều phối, chỉ huy, chỉ đạo của địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng hơn.

Về điều kiện viễn thông khi tham gia đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, đại biểu đề nghị tại khoản 2 Điều 2 dự thảo Luật bổ sung quy định cơ quan quản lý nhà nước thực hiện kiểm tra, đối soát thông tin về việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp thông qua kết nối, khai thác dữ liệu từ Cổng Dịch vụ công quốc gia và các cơ sở dữ liệu có liên quan.

Nếu thực hiện được việc này sẽ góp phần bảo đảm cải cách thủ tục hành chính, tăng cường khai thác, chia sẻ dữ liệu số giữa các cơ quan Nhà nước; đồng thời giảm chi phí và thời gian thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp.

Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội thảo luận ở tổ. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông, tại điểm b khoản 3 Điều 2 dự thảo Luật quy định: trường hợp chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông quy định tại điểm a khoản 1 Điều này mà các bên không thỏa thuận được về giá chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông thì thực hiện hiệp thương theo quy định của pháp luật về giá. Trường hợp các bên không thống nhất được đối với nội dung khác về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định này chưa xác định rõ phạm vi áp dụng và cơ quan có thẩm quyền, có thể gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện sau khi Luật được ban hành. Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng của quy định trường hợp các bên không thống nhất được đối với nội dung khác về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông, cụ thể là chỉ áp dụng đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 hay áp dụng cả điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47.

Đồng thời, đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc này là cơ quan nào, nhằm bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện, tránh cách hiểu khác nhau gây lúng túng trong thực tiễn và hạn chế việc phải ban hành thêm các nghị định, thông tư hướng dẫn có liên quan.

Cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Luật và thống nhất với nhiều nội dung trong dự thảo Luật cũng như Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) đánh giá cao cách tiếp cận của dự án Luật lần này.

Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh Lạng Sơn, Điện Biên và Vĩnh Long thảo luận ở tổ. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Mặc dù sửa đổi đồng thời 4 luật nhưng Cơ quan soạn thảo không mở rộng phạm vi điều chỉnh mà tập trung tương đối rõ vào ba nhóm chính sách: cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đồng thời hoàn thiện một số cơ chế quản lý để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đặc biệt, theo hồ sơ, dự thảo Luật dự kiến bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, cắt giảm 47 điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa 4 điều kiện và sửa đổi, bổ sung 3 điều kiện; riêng lĩnh vực tần số vô tuyến điện cắt giảm 33/41 điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định tại Luật. Đây là mức độ cải cách khá mạnh và thể hiện rõ tinh thần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, đại biểu Việt Nga cũng đánh giá cao việc Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu nhiều ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Cơ quan thẩm tra trong quá trình hoàn thiện dự thảo.

Đồng tình với việc cắt giảm mạnh điều kiện đầu tư kinh doanh, tuy nhiên đại biểu Việt Nga cũng đề nghị cần đặc biệt quan tâm đến năng lực hậu kiểm sau khi các điều kiện tiền kiểm được bãi bỏ. Theo đại biểu, tinh thần của dự thảo là rất tiến bộ: giảm quản lý bằng giấy phép, điều kiện, hồ sơ; tăng quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu và giám sát thực thi.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng yêu cầu kiên quyết xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, đồng thời phải thiết kế đầy đủ phương thức quản lý thay thế đối với những điều kiện, thủ tục được bãi bỏ.

Đại biểu cho rằng, đây phải là hai vế của cùng một cuộc cải cách: Cắt giảm điều kiện mà không có công cụ hậu kiểm đủ mạnh thì có nguy cơ buông lỏng quản lý; nhưng hậu kiểm quá nhiều tầng, quá nhiều báo cáo, kiểm tra thì lại có nguy cơ tạo ra một gánh nặng hành chính mới cho doanh nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực mà dự án Luật điều chỉnh.

Do đó, đại biểu thành phố Hải Phòng đề nghị Chính phủ khi hoàn thiện các nghị định hướng dẫn phải xác định rõ đối với mỗi nhóm điều kiện được cắt giảm: công cụ quản lý thay thế là gì, cơ quan nào chịu trách nhiệm, dựa trên cơ sở dữ liệu nào và chế tài ra sao khi phát hiện vi phạm. Đồng thời, cần thực hiện đúng nguyên tắc dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống,” tăng kết nối giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có.

Nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) đề nghị cơ quan soạn thảo cần tiếp tục làm rõ một số quy định liên quan đến cấp băng tần phục vụ quốc phòng, an ninh.

Theo đại biểu, dự thảo Luật quy định trường hợp đặc biệt, băng tần được cấp cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh với thời hạn không quá 5 năm để phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, các khái niệm “trường hợp đặc biệt” và “phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh” vẫn mang tính định tính, chưa có tiêu chí cụ thể để xác định phạm vi áp dụng. Điều này có thể dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau, ảnh hưởng đến tính minh bạch, khách quan trong quá trình cấp phép.

Do đó, đại biểu Nguyễn Minh Tâm đề nghị bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí xác định trường hợp đặc biệt, điều kiện để doanh nghiệp được áp dụng cơ chế này cũng như tiêu chí đánh giá hoạt động phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo đảm việc triển khai thống nhất, công khai, minh bạch./.

(TTXVN/Vietnam+)