Cao tốc Bến Lức-Long Thành: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng
Khi hạ tầng và cơ chế phối hợp liên vùng được triển khai đồng bộ, tuyến cao tốc sẽ phát huy lợi thế của từng địa phương, mở rộng liên kết sản xuất, lưu thông hàng hóa, thúc đẩy phát triển vùng ĐBSCL.
Cao tốc Bến Lức-Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương.
Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.
Quy hoạch không gian
Cao tốc Bến Lức-Long Thành đi vào khai thác toàn tuyến tạo điều kiện tăng cường kết nối các khu công nghiệp, trung tâm logistics và hệ thống cảng biển. Đón đầu lợi thế này, nhiều khu công nghiệp chủ động chuẩn bị hạ tầng, mở rộng khả năng thu hút đầu tư, tạo dư địa phát triển sản xuất và dịch vụ hậu cần.
Tại Khu công nghiệp Phú An Thạnh, xã Bến Lức, ông Nguyễn Xuân Cường, Giám đốc Phát triển dự án cho biết: Tuyến cao tốc bổ sung hướng kết nối đến Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương phía Đông. Khu công nghiệp có tổng diện tích 352 ha, gồm 272 ha hiện hữu và khoảng 80 ha mở rộng; khu hiện hữu thu hút 72 nhà đầu tư, tỷ lệ lấp đầy đạt 95%.
Theo ông Cường, giao thông thuận lợi hơn giúp doanh nghiệp chủ động vận chuyển hàng hóa, rút ngắn thời gian đi lại và giảm chi phí logistics. Thời gian di chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương Đông Nam Bộ có thể rút ngắn khoảng 30 phút đến một giờ, tùy hành trình. Trước đây, đi đến trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh mất gần một giờ, đến Đồng Nai khoảng hai giờ; hiện thời gian đến Đồng Nai còn khoảng một đến một giờ rưỡi. Khi sân bay Long Thành đi vào khai thác, khả năng kết nối thuận lợi hơn được kỳ vọng tiếp tục tạo lợi thế cho hoạt động vận tải, sản xuất, kinh doanh.
Tại Tây Ninh, định hướng phát triển kinh tế giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phát huy lợi thế vị trí, hoàn thiện hạ tầng kết nối và cải thiện môi trường đầu tư. Theo thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh, 9 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 10,3%, đứng thứ 10 cả nước và dẫn đầu vùng Đông Nam Bộ. Trong đó, khu vực công nghiệp-xây dựng tăng 14%; thu ngân sách nhà nước đạt gần 52.000 tỷ đồng, bằng 97,6% dự toán Trung ương giao; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đứng thứ 6/34 tỉnh, thành phố.

Tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông trọng điểm như đường Vành đai 3, Vành đai 4 và cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài, từng bước hoàn thiện hạ tầng kết nối. Đến nay, Tây Ninh có hơn 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn khoảng 800.000 tỷ đồng và gần 2.200 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký trên 27 tỷ USD.
Tỉnh thuộc nhóm 3 địa phương có thành tích cải cách nổi bật trong 20 năm triển khai Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đồng thời hai năm liên tiếp nằm trong Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn.
Với hơn 37.000 doanh nghiệp, tổng vốn điều lệ trên 960.000 tỷ đồng, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đóng góp ngân sách và mở rộng thị trường. Cao tốc Bến Lức-Long Thành tạo thêm cơ sở để Tây Ninh tăng cường liên kết với các trung tâm sản xuất, giao thương phía Đông.
Việc gắn quy hoạch khu công nghiệp với mạng lưới giao thông liên vùng, chuẩn bị mặt bằng sạch, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp nhà đầu tư rút ngắn thời gian triển khai dự án, sớm đưa năng lực sản xuất vào hoạt động.
Với Đồng Tháp, lợi thế kết nối mở thêm cơ hội đưa hàng hóa đến thị trường, tăng cường liên kết giữa vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và các đầu mối xuất nhập khẩu.
Ông Nguyễn Văn Đạo, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Gò Đàng, Khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp cho hay: Giao thông kết nối đồng bộ giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn vận chuyển hàng hóa. Cao tốc Bến Lức-Long Thành kết nối Đồng Tháp và Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống cảng biển quốc tế Cái Mép-Thị Vải và sân bay quốc tế Long Thành, tạo điều kiện để doanh nghiệp nước ngoài và khách quốc tế đến Đồng Tháp mà không phải đi qua vùng lõi đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó giảm thời gian và chi phí vận chuyển.

Theo Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Đồng Tháp, các khu công nghiệp trên địa bàn đã thu hút 184 dự án, gồm 103 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và 81 dự án đầu tư trực tiếp trong nước (DDI), với tổng vốn đăng ký 95.669,31 tỷ đồng; trong đó vốn FDI đạt 3.550,39 triệu USD. Tỷ lệ lấp đầy bình quân tại các khu công nghiệp đang hoạt động đạt 93,14%; một số khu công nghiệp như Trần Quốc Toản, Tân Hương và Mỹ Tho đã lấp đầy 100%. Tại Khu kinh tế cửa khẩu, tỉnh thu hút 7 dự án với vốn đăng ký 142,92 tỷ đồng.
Để chuyển hóa lợi thế hạ tầng thành kết quả tăng trưởng, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh tham mưu quy hoạch các khu, cụm công nghiệp gần nút giao cao tốc, chuẩn bị quỹ đất sạch và hạ tầng kỹ thuật, tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng tại các dự án trọng điểm như Khu công nghiệp Bình Đông, Tân Phước 1 và Tân Phước 2. Tỉnh cũng triển khai thủ tục lựa chọn nhà đầu tư mới cho Khu công nghiệp Tân Kiều, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất tại Khu công nghiệp Dịch vụ Dầu khí Soài Rạp và nghiên cứu hình thành Khu kinh tế ven biển Gò Công quy mô khoảng 26.700 ha.
Theo ông Nguyễn Nhật Trường, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Đồng Tháp, hạ tầng giao thông hoàn thiện là tiêu chí quan trọng thu hút vốn FDI và DDI. Kết nối cao tốc thuận lợi hơn được kỳ vọng tăng sức hấp dẫn của Đồng Tháp đối với các tập đoàn kinh tế lớn, thúc đẩy đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics và những ngành có giá trị gia tăng cao.
Dù có lợi thế và cơ cấu kinh tế khác nhau, Tây Ninh và Đồng Tháp đều đứng trước yêu cầu chuyển lợi thế vị trí, hạ tầng thành năng lực cạnh tranh. Nếu Tây Ninh phát huy vai trò của công nghiệp, khu công nghiệp và kết nối giao thương, Đồng Tháp cần gắn thế mạnh nông nghiệp với chế biến sâu, logistics và kinh tế biển. Sự bổ trợ giữa các địa phương có thể tạo thêm động lực cho chuỗi cung ứng và phát triển kinh tế toàn vùng.
Cải thiện môi trường
Bên cạnh quy hoạch hạ tầng và không gian kinh tế, chất lượng môi trường đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định khả năng chuyển cơ hội kết nối thành các dự án cụ thể. Nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến vị trí, giao thông mà còn xem xét khả năng tiếp cận đất đai, thủ tục hành chính, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và tính ổn định của chính sách.
Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh Lê Văn Hẳn, Quy hoạch tỉnh sau điều chỉnh xác định mục tiêu xây dựng Tây Ninh phát triển năng động, xanh và bền vững, trở thành trung tâm kết nối chiến lược giữa Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long, đầu mối giao thương với Campuchia, đồng thời là nơi đáng đến, đáng sống ở phía Nam.
Trong không gian phát triển mới, công nghiệp và đô thị được định hướng gắn kết với thương mại, dịch vụ; nông nghiệp công nghệ cao phát triển theo hướng kết hợp chế biến sâu và xuất khẩu. Hệ thống cửa khẩu, cảng biển và hạ tầng giao thông tạo nền tảng thúc đẩy logistics, mở rộng giao thương và tăng cường liên kết vùng.

Ông Lê Văn Hẳn cho rằng, một số vướng mắc về thủ tục, đất đai, giải phóng mặt bằng và hạ tầng vẫn ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, “thời gian và chi phí của doanh nghiệp phải được coi trọng như chính nguồn lực của tỉnh.”
Để cụ thể hóa cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp, Tây Ninh xác định phương châm “ba có, hai không;” trong đó, “ba có” gồm môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch; hạ tầng, mặt bằng sẵn sàng đón nhà đầu tư; đối thoại thực chất.
Tỉnh đẩy mạnh cải cách hành chính, số hóa quy trình, công khai thông tin quy hoạch, quỹ đất và điều kiện đầu tư; đồng thời, phát triển hạ tầng giao thông, các khu, cụm công nghiệp, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề.
Hai nội dung “không” là không để kiến nghị của doanh nghiệp tồn đọng và không để doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ. “Kiến tạo để doanh nghiệp phát triển, phục vụ để doanh nghiệp thành công đó chính là trách nhiệm của chính quyền tỉnh trong giai đoạn mới,” ông Lê Văn Hẳn nhấn mạnh.
Đối với Đồng Tháp, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Trần Văn Dũng cho biết, nhằm mở rộng không gian phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết số 20-NQ/TW, tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1413/KH-UBND ngày 16/9/2026 về định hướng phát triển Khu kinh tế ven biển Gò Công theo mô hình tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, gồm công nghiệp, dịch vụ, đô thị và nông nghiệp gắn với kinh tế biển.

Khu kinh tế Gò Công có quy mô dự kiến khoảng 26.700 ha, gồm toàn bộ xã Gia Thuận, Tân Điền và một phần các xã Tân Đông, Gò Công Đông, Tân Phú Đông. Trong đó, phần đất liền khoảng 15.600 ha, phần mặt nước khoảng 11.100 ha. Khu vực được định hướng trở thành trục ven biển quan trọng của Đồng bằng sông Cửu Long, kết nối Bắc-Nam với Thành phố Hồ Chí Minh và tạo động lực phát triển kinh tế ven biển.
Các ngành ưu tiên gồm công nghiệp năng lượng, sản xuất điện, đóng tàu và công nghiệp phụ trợ; nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao; dịch vụ, du lịch gắn với kinh tế cảng, khu phi thuế quan và các khu dân cư đô thị, nông thôn mới.
Tỉnh Đồng Tháp sẽ đẩy mạnh đầu tư dịch vụ cảng biển, logistics và xây dựng trung tâm logistics tại Khu kinh tế ven biển nhằm khai thác hiệu quả luồng cho tàu biển trọng tải lớn cập bến biển, sông Soài Rạp.
Cùng với quy hoạch không gian kinh tế, Tỉnh ủy Đồng Tháp ban hành Nghị quyết số 20 về phát triển hạ tầng giao thông giai đoạn 2026-2030, nhằm tháo gỡ điểm nghẽn tăng trưởng, giảm chi phí sản xuất và trung chuyển hàng hóa đến các trung tâm tiêu thụ, chế biến, xuất khẩu.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỉnh Đồng Tháp phấn đấu đầu tư xây dựng thêm 124 km đường cao tốc, 30 km quốc lộ, 200 km đường tỉnh; nâng cấp khoảng 20,8 km đường thủy nội địa quốc gia, xây dựng mới 50 km đường đô thị và nâng cấp 100% cầu trên các tuyến đường tỉnh, bảo đảm tải trọng khai thác an toàn, thông suốt.
Tỉnh ưu tiên hình thành hai tuyến đường bộ kết nối Đông-Tây, từ Khu kinh tế biển Gò Công đến Cửa khẩu quốc tế Dinh Bà và từ biển Tân Thành đến Cửa khẩu quốc tế Thường Phước.
Để cao tốc Bến Lức-Long Thành thực sự trở thành động lực tăng trưởng, các địa phương cần gắn quy hoạch giao thông với vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, kho bãi, cảng biển và thị trường tiêu thụ; đồng thời cải thiện thủ tục đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong quản lý chuỗi cung ứng.
Khi hạ tầng và cơ chế phối hợp liên vùng được triển khai đồng bộ, tuyến cao tốc sẽ góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, mở rộng liên kết sản xuất, lưu thông hàng hóa và thúc đẩy phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long./.
Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa
