Cam kết quốc tế về quyền của người cao tuổi: Động lực phát triển kinh tế bạc
Thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, nhiều mô hình chăm sóc tích hợp, chăm sóc dài hạn và sinh kế thích ứng với già hóa dân số được Việt Nam thí điểm, nhân rộng và đã phát huy hiệu quả.
Dân số Việt Nam đang già hóa với tốc độ thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới. Bảo đảm quyền của người cao tuổi trở thành yêu cầu cấp thiết cả về phương diện nhân văn lẫn định hướng phát triển lâu dài.
Trong hơn ba thập niên qua, Việt Nam tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế về quyền của người cao tuổi, góp phần tạo dựng nền tảng pháp lý và chính sách phát triển kinh tế bạc.
Cam kết quốc tế và chiến lược thích ứng già hóa dân số
Kinh tế bạc bao trùm nhiều lĩnh vực, gồm chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, công nghệ, tài chính, giáo dục, du lịch, nhà ở, việc làm và đổi mới sáng tạo. Phát triển các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với người cao tuổi đang được nhìn nhận như một phần của chiến lược thích ứng già hóa dân số, được xây dựng trên nền tảng để Việt Nam tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế.
Những cam kết này đã được nội luật hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và phát huy vai trò của người cao tuổi theo chuẩn mực quốc tế.
Nguyên tắc của Liên hợp quốc về Người cao tuổi với 5 giá trị cốt lõi gồm độc lập, tham gia, chăm sóc, tự hoàn thiện và phẩm giá đã định hướng rõ nét cho chính sách quốc gia.
Việc thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam năm 1994 đánh dấu bước phát triển quan trọng. Với mạng lưới rộng khắp và khoảng 10 triệu hội viên, Hội Người cao tuổi giữ vai trò nòng cốt trong chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội.
Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển (1994) đã tạo bước chuyển trong tư duy chính sách khi đặt con người ở vị trí trung tâm. Việt Nam cụ thể hóa cam kết thông qua các chiến lược dân số đến năm 2030 với trọng tâm là thích ứng già hóa dân số, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia, tăng cường nghiên cứu, đánh giá chính sách về sức khỏe, bảo hiểm y tế và điều kiện sống của người cao tuổi.
Một văn kiện quan trọng khác là Kế hoạch Hành động Madrid về già hóa (2002), nhấn mạnh 3 trụ cột gồm hòa nhập xã hội, nâng cao sức khỏe và xây dựng môi trường thuận lợi.
Việt Nam đã lồng ghép các nội dung này vào Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 và Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045, hướng tới xây dựng xã hội thân thiện với người cao tuổi.
Thực hiện Chương trình nghị sự 2030 và các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) với nguyên tắc "Không ai bị bỏ lại phía sau," Việt Nam đã 2 lần công bố Báo cáo rà soát quốc gia tự nguyện, ghi nhận tiến bộ trong mở rộng bao phủ an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp pháp lý, lồng ghép các mục tiêu liên quan đến người cao tuổi vào các lĩnh vực sức khỏe, giáo dục, việc làm, đô thị và ứng phó biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, sáng kiến Thập kỷ Già hóa khỏe mạnh do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên hợp quốc phát động đã được Việt Nam tích cực triển khai. Mô hình chăm sóc tích hợp cho người cao tuổi (ICOPE) đang được thí điểm tại tuyến y tế cơ sở, hỗ trợ quản lý bệnh mạn tính và cải thiện chăm sóc dài hạn.

Bên cạnh đó, mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau phát huy hiệu quả trong hỗ trợ sinh kế, chăm sóc sức khỏe, học tập suốt đời và tăng cường gắn kết cộng đồng, được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận.
Việt Nam cũng tham gia các sáng kiến của ASEAN, APEC, ASEM về già hóa dân số, ủng hộ việc xây dựng Công ước quốc tế về quyền người cao tuổi, coi đây là cơ hội rà soát, hoàn thiện pháp luật trong nước theo hướng nâng cao tiêu chuẩn bảo vệ nhân quyền.
Dù vậy, theo các chuyên gia, trên thực tế vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Tỷ lệ người cao tuổi có lương hưu hoặc trợ cấp thường xuyên còn thấp; nhiều người tiếp tục lao động trong khu vực phi chính thức hoặc phụ thuộc vào gia đình.
Người cao tuổi ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc dài hạn. Nguồn lực tài chính, nhân lực lão khoa và năng lực phân tích dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh già hóa nhanh.
Biến cam kết quốc tế thành động lực phát triển kinh tế bạc
Thạc sỹ Trần Bích Thủy, Giám đốc Quốc gia Tổ chức HelpAge International tại Việt Nam cho rằng, việc Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người cao tuổi không chỉ góp phần bảo đảm quyền lợi mà còn đặt nền móng thể chế và chính sách cho sự hình thành kinh tế bạc. Thay đổi rõ rệt nhất là sự chuyển dịch tư duy từ "nhóm cần hỗ trợ" sang "chủ thể có năng lực, kinh nghiệm."

Người cao tuổi được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, một thị trường tiêu dùng đặc thù với nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe, công nghệ, tài chính, du lịch và giáo dục. Chính sự thay đổi nhận thức này đã thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan quản lý nhà nước quan tâm hơn tới việc thiết kế sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhóm dân số đang gia tăng nhanh chóng.
Bà Trần Bích Thủy cũng cho biết, các khuyến nghị từ Chương trình Hành động quốc tế về dân số và phát triển (ICPD), Kế hoạch Hành động Madrid về già hóa (MIPAA) và Chương trình Nghị sự 2030 về các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) đã được Việt Nam lồng ghép vào hệ thống chính sách quốc gia.
Nhiều văn bản quan trọng được ban hành nhằm xây dựng hệ sinh thái dịch vụ dành cho người cao tuổi như: chăm sóc sức khỏe, khuyến khích việc làm phù hợp năng lực, thúc đẩy người cao tuổi tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khởi nghiệp.
Các chính sách này vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển thị trường dịch vụ, công nghiệp chăm sóc, y tế, nhà ở thích ứng, công nghệ hỗ trợ và tài chính dành cho người cao tuổi.
Việc thực thi cam kết quốc tế cũng mở rộng không gian hợp tác giữa Việt Nam với nhiều tổ chức như UNFPA, WHO, Liên minh châu Âu, KOICA, ADB, Ngân hàng Thế giới và các đối tác phát triển khác. Thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, nhiều mô hình chăm sóc tích hợp, chăm sóc dài hạn và sinh kế thích ứng với già hóa dân số đã được thí điểm, nhân rộng.

Một điển hình được chuyên gia nhấn mạnh là mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau do HelpAge International hỗ trợ triển khai tại nhiều địa phương. Mô hình này kết hợp các hoạt động tăng thu nhập, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc tại nhà, văn hóa-văn nghệ, học tập suốt đời và bảo vệ quyền lợi, qua đó tạo giá trị kép: nâng cao phúc lợi xã hội đồng thời phát triển sinh kế cho người cao tuổi. Đây được coi là minh chứng cho việc nội địa hóa hiệu quả các cam kết quốc tế vào thực tiễn cộng đồng.
Bà Trần Bích Thủy cho rằng, Việt Nam cần chính thức đưa kinh tế bạc trở thành một cấu phần trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, tương tự như kinh tế xanh hay kinh tế số.
Việc hoàn thiện khung pháp lý, rà soát, cập nhật Luật Người cao tuổi và tích hợp nội dung phát triển kinh tế bạc vào các chiến lược ngành như: y tế, lao động-việc làm, công nghệ, nhà ở, tài chính... giúp định hình tầm nhìn dài hạn, đảm bảo cơ chế phối hợp liên ngành, tránh phân tán nguồn lực.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần đầu tư cho hệ thống chăm sóc dài hạn, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đặc biệt là tuyến xã, thúc đẩy các sản phẩm tài chính phù hợp và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ dành cho người cao tuổi.
Các bên liên quan cần tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội, giảm thiểu định kiến tuổi tác, xây dựng hình ảnh người cao tuổi năng động, sáng tạo, tăng cường hợp tác quốc tế...
Một nền kinh tế bạc thành công phải đặt quyền lợi của người cao tuổi ở vị trí trung tâm. Khi quyền được bảo đảm và năng lực được khơi dậy, người cao tuổi sẽ trở thành chủ thể, đóng góp tích cực vào một xã hội bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau./.
