Bảo vệ thực vật có trách nhiệm: An toàn từ đồng ruộng đến chuỗi giá trị lúa gạo

Theo Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, bảo vệ thực vật không còn là câu chuyện phun thuốc gì, mà quản trị rủi ro cho hạt gạo và vùng nguyên liệu, qua đó nâng giá trị của toàn chuỗi.

Bước vào vụ Đông Xuân 2026 - 2027, Đồng bằng sông Cửu Long đứng trước yêu cầu vừa nâng cao chất lượng, giá trị hạt gạo, vừa giảm đầu vào và phát thải. Trong bối cảnh đó, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả không chỉ là câu chuyện của từng hộ nông dân, mà cần trở thành một phần trong quản trị vùng nguyên liệu và toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo.

Bảo vệ cây trồng có trách nhiệm

Tháng Mười, miền Tây bước vào mùa nước nổi, cũng là thời điểm nông dân chuẩn bị cho vụ Đông Xuân 2026 - 2027. Đây là lúc việc lựa chọn giống, làm đất, vật tư và phương án quản lý dịch hại được đặt ra, với yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả sản xuất, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.

Phát biểu tại Diễn đàn Thuốc bảo vệ thực vật vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2026 với chủ đề “Bảo vệ cây trồng có trách nhiệm - Đồng hành cùng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp,” diễn ra sáng 8/10, ông Trần Văn Cao - Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh đây là dịp để cơ quan quản lý, nhà khoa học, hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng trao đổi, chia sẻ những vấn đề đang đặt ra trong sản xuất.

Theo ông Trần Văn Cao, các tham luận và tọa đàm tại diễn đàn sẽ tập trung vào những góc nhìn từ quản lý, nghiên cứu và thực tiễn, trong đó có kinh nghiệm sử dụng thuốc an toàn, giải pháp sinh học, quản lý dịch hại và công nghệ phun chính xác, cả về kết quả đạt được cũng như điều kiện để áp dụng hiệu quả trên đồng ruộng.

Tại thành phố Cần Thơ, định hướng trên cũng đang được cụ thể hóa bằng các chương trình, mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp. Đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ, cho biết thông điệp xuyên suốt là không phải bỏ thuốc bảo vệ thực vật, mà là sử dụng đúng lúc, đúng cách và có kiểm soát.

Trong đó, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật xác định cần áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), ưu tiên các giải pháp sinh học, kết hợp biện pháp sinh học, sinh thái và bảo vệ thiên địch. Cùng với đó là nguyên tắc “4 đúng” (sử dụng đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc và bảo đảm thời gian cách ly). Mục tiêu không chỉ là kiểm soát sâu bệnh mà còn giảm đầu vào không cần thiết, giảm chi phí, nâng cao chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường.

Thực tế triển khai tại Cần Thơ cũng cho thấy cách tiếp cận trên mang lại hiệu quả rõ rệt. Các mô hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả đã giúp giảm chi phí đầu tư, trong khi lợi nhuận tăng so với phương thức sản xuất theo tập quán.

Đối với mô hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả trên lúa, chi phí sản xuất đã giảm 9,865 triệu đồng/ha, chủ yếu là chi phí thuốc bảo vệ thực vật và phân bón; lợi nhuận cao hơn đối chứng 6,345 triệu đồng/ha; giá thành sản xuất còn 28.101 đồng/kg, so với 30.008 đồng/kg ở đối chứng.

Đáng chú ý, trong giai đoạn 2025-2026, thành phố Cần Thơ đã triển khai và nhân rộng nhiều mô hình gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tổng diện tích tích lũy đạt 14.647ha với 89 mô hình, gồm 12 mô hình thí điểm và 77 mô hình nhân rộng; riêng vụ Đông Xuân 2026-2027 có 23 mô hình nhân rộng.

“Những mô hình trên hướng tới giảm lượng giống gieo sạ, tiết kiệm phân bón hóa học, hạn chế sâu bệnh và giảm tần suất phun thuốc bảo vệ thực vật, qua đó góp phần hạ giá thành và nâng cao hiệu quả canh tác,” đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ thông tin.

Việc ứng dụng công nghệ như drone trong gieo sạ, bón phân và phun thuốc không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn đảm bảo độ chính xác cao trong canh tác hướng tới nền nông nghiệp xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị hạt gạo đang trở thành định hướng quan trọng tại thành phố Cần Thơ. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Nâng sức cạnh tranh hạt gạo

Nhìn nhận từ góc độ thị trường, ông Lê Thanh Tùng - Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng cần chuyển từ tư duy sản xuất lúa sang quản trị chất lượng và giá trị của toàn chuỗi. Trong đó, vùng nguyên liệu phải tổ chức sản xuất tập trung, quy trình đồng nhất và kiểm soát rủi ro theo vùng; chất lượng phải được quản lý từ giống, canh tác, bảo vệ thực vật đến thu hoạch, bảo quản; và kiểm soát nguy cơ dư lượng, tuân thủ danh mục, liều lượng, thời gian cách ly và yêu cầu của từng thị trường.

Một yêu cầu quan trọng khác là truy xuất nguồn gốc, thông qua ghi chép, mã số vùng trồng, dữ liệu sản xuất và khả năng chứng minh quá trình canh tác.

“Như vậy, bảo vệ thực vật không còn là câu chuyện phun thuốc gì, mà là quản trị rủi ro nào cho hạt gạo và vùng nguyên liệu,” ông Lê Thanh Tùng nói.

Trong tham luận gửi tới diễn đàn, ông Tùng cho rằng vùng nguyên liệu an toàn là nền tảng của chuỗi lúa gạo. Muốn truy xuất được hạt gạo thì phải quản trị được quá trình sản xuất. Điều này đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp lúa gạo, doanh nghiệp bảo vệ thực vật, hợp tác xã và nông dân, trong đó các bên cùng chịu trách nhiệm và cùng tạo giá trị.

Thực tế, theo Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, vẫn còn nhiều điểm nghẽn như tập quán phun thuốc theo kinh nghiệm, tâm lý “phòng là chính”; mỗi hộ áp dụng một cách làm khiến việc kiểm soát trên toàn vùng khó khăn; dữ liệu ghi chép, lưu trữ và truy xuất chưa đồng đều; liên kết giữa các bên chưa chặt chẽ; yêu cầu về dư lượng thay đổi theo từng thị trường, trong khi chi phí cho giám sát, tập huấn và kiểm soát còn là một thách thức.

Từ thực tế trên, ông Tùng cho rằng điểm nghẽn cốt lõi không chỉ nằm ở việc người nông dân có sử dụng thuốc đúng hay không, mà là chưa biến yêu cầu bảo vệ thực vật thành một bộ phận của cơ chế quản trị vùng nguyên liệu.

Đề cập đến giải pháp, ông Tùng nhấn mạnh điều quan trọng là đưa bảo vệ thực vật có trách nhiệm trở thành một mắt xích của chuỗi, từ quản lý dịch hại, thăm đồng, dự báo và chỉ xử lý khi cần; chuẩn hóa quy trình gắn với tiêu chuẩn vùng nguyên liệu và yêu cầu thị trường; số hóa nhật ký sản xuất, mã số vùng trồng và dữ liệu sử dụng đầu vào; đến đào tạo thực hành, khuyến khích giải pháp sinh học và giảm những lần phun không cần thiết.

Thu hoạch lúa gạo. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Trong cơ chế đó, mỗi chủ thể cần một phần việc và lợi ích rõ ràng. Cơ quan quản lý hoàn thiện hướng dẫn, giám sát và phổ biến yêu cầu thị trường; doanh nghiệp lúa gạo đưa tiêu chí bảo vệ thực vật vào liên kết và tiêu chuẩn thu mua; doanh nghiệp bảo vệ thực vật cung cấp giải pháp kỹ thuật, đào tạo và đồng hành cùng vùng nguyên liệu. Trong khi đó, hợp tác xã tổ chức sản xuất, kiểm soát nội bộ, quản lý dữ liệu; còn nông dân tuân thủ quy trình, thăm đồng, ghi chép và thu gom bao bì thuốc sau sử dụng.

“Mục tiêu không chỉ là giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, mà là hình thành phương thức sản xuất trong đó bảo vệ thực vật trở thành một tiêu chí đo lường chất lượng vùng nguyên liệu, gắn với hiệu quả kinh tế, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và mục tiêu phát thải thấp,” ông Tùng nói.

Đây cũng là nền tảng để Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp không dừng ở việc thay đổi phương thức canh tác trên đồng ruộng, mà tiến tới nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của toàn chuỗi lúa gạo./.

(Vietnam+)