An ninh năng lượng: Lời giải chiến lược và hệ thống từ Trung Quốc

Trung Quốc duy trì chiến lược nhập khẩu năng lượng đa dạng từ khoảng 40 quốc gia, giúp giảm thiểu hiệu quả các rủi ro địa chính trị và khủng hoảng năng lượng.

Tự lực trong nước, đa dạng hóa an ninh và tăng cường dự trữ là đặc điểm cốt lõi của chiến lược an ninh năng lượng Trung Quốc. Đây là câu trả lời của bà Lưu Anh (Liu Ying), nhà quan sát quản trị toàn cầu, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Tài chính Trùng Dương thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, đưa ra trong cuộc phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh về các biện pháp ứng phó về an ninh năng lượng của nền kinh tế lớn nhất châu Á trong bối cảnh cạn kiệt nguồn cung năng lượng trên thế giới.

Nhà quan sát quản trị toàn cầu, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Tài chính Trùng Dương thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc Lưu Anh. (Ảnh: TTXVN phát)

Theo bà Lưu Anh, Trung Quốc đã chủ động thiết lập và xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng chiến lược. Theo đó, nước này đã xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược lớn nhất thế giới, đồng thời thiết lập hệ thống dự trữ dầu 3 cấp hàng đầu thế giới, bao gồm mạng lưới dự trữ quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức tài chính.

Bên cạnh đó, Trung Quốc duy trì chiến lược nhập khẩu năng lượng đa dạng từ lâu, giúp giảm thiểu hiệu quả các rủi ro địa chính trị. Nguồn nhập khẩu dầu của Trung Quốc đã tăng nhanh chóng với khoảng 40 quốc gia, trải rộng hầu hết các châu lục.

Đáng chú ý, Trung Quốc còn sở hữu năng lực sản xuất trong nước mạnh mẽ và chuỗi công nghiệp bền vững. Nước này đã tăng cường đáng kể khả năng tự cung tự cấp năng lượng, sở hữu công nghệ hóa chất than tiên tiến và trữ lượng dồi dào, cùng với nguồn tài nguyên than phong phú, mang lại lợi thế cạnh tranh về chi phí rõ rệt hơn trong bối cảnh giá dầu tăng cao.

Nhà quan sát quản trị toàn cầu Lưu Anh cho biết Trung Quốc còn sở hữu một bộ biện pháp ứng phó khẩn cấp và điều tiết thị trường toàn diện. Trước tình trạng giá năng lượng tăng vọt do xung đột, Trung Quốc đã kịp thời thực hiện các biện pháp điều tiết thị trường, bao gồm việc kiểm soát xuất khẩu, ổn định thị trường tương lai và cải thiện cơ chế định giá.

Cùng với đó, chuyển đổi cơ cấu năng lượng và phát triển năng lượng mới tiên tiến cũng là những yếu tố then chốt mà Trung Quốc thực hiện. Hiện nay, tỷ lệ thay thế bằng xe năng lượng mới rất cao, vượt hơn 50%, tiết kiệm gần 100 triệu tấn dầu thô mỗi năm. Trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 15,” Trung Quốc cũng đề xuất xây dựng hệ thống năng lượng mới và thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi cơ cấu năng lượng.

Về điều chỉnh chiến lược dài hạn trước những biến động nhanh chóng trong tình hình mới hiện nay, nhà nghiên cứu Lưu Anh nhận định mặc dù có những gián đoạn ngắn hạn trong chuỗi cung ứng, nhưng về trung và dài hạn, những biến động này sẽ thúc đẩy các quốc gia đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng, đặc biệt là phát triển các nguồn năng lượng mới, đảm bảo tự túc và kiểm soát năng lượng, cũng như một chuỗi cung ứng an toàn, ổn định và bền vững. Trung Quốc cũng nằm trong số đó, đã điều chỉnh chiến lược năng lượng của mình.

Thứ nhất, Trung Quốc đã duy trì trọng tâm chiến lược, tiếp tục thực hiện các mục tiêu kép về carbon và lộ trình chuyển đổi năng lượng. “Quy hoạch 5 năm lần thứ 15” đã lần đầu tiên đưa “xây dựng một quốc gia năng lượng mạnh” vào kế hoạch chiến lược quốc gia một cách rõ ràng, đồng thời triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn.

Thứ hai, logic an ninh đang được định hình lại, từ “phụ thuộc vào tài nguyên” sang “tự chủ về công nghệ” với lợi thế về cấu trúc rất nổi bật về công nghệ và chi phí trên toàn cầu.

Hơn nữa, Trung Quốc có lợi thế rõ ràng về khả năng ứng phó khẩn cấp và dự trữ chiến lược. Với những ưu thế toàn diện về sự phối hợp trong ngành năng lượng và đổi mới công nghệ, Trung Quốc đang đẩy nhanh nỗ lực xây dựng một cường quốc năng lượng, đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc bối cảnh năng lượng toàn cầu.

Về kiến nghị chính sách đối với Việt Nam, để đạt được mục tiêu kép về an ninh năng lượng và tăng trưởng kinh tế hai chữ số, theo học giả Trung Quốc, Việt Nam cần áp dụng một kế hoạch chiến lược có hệ thống, tầm nhìn xa và thực tiễn.

Trước tiên, phải hành động ngay lập tức; kích hoạt các biện pháp khẩn cấp ngắn hạn để giải quyết tình trạng thiếu điện hiện tại.

Thứ hai, kiên quyết thực hiện chuyển đổi năng lượng; coi năng lượng tái tạo là định hướng phát triển dài hạn và khai thác tối đa nguồn tài nguyên năng lượng mới dồi dào của Việt Nam.

Thứ ba, tăng cường đổi mới thể chế; xây dựng cơ chế điều phối năng lượng mạnh mẽ và hệ thống thị trường vững mạnh.

Thứ tư, tăng cường các đột phá về tài chính; đầu tư vào năng lượng có quy mô lớn và lợi nhuận chậm, đòi hỏi các công cụ tài chính sáng tạo để thu hút vốn trong và ngoài nước cho các dự án hợp tác xây dựng.

Thứ năm, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành; chuyển đổi năng lượng cần được kết hợp một cách hữu cơ với việc nâng cấp công nghiệp, chẳng hạn như năng lượng mới và xe năng lượng mới.

Thứ sáu, đảm bảo môi trường công bằng và toàn diện; công bằng xã hội và cân bằng khu vực phải được đảm bảo trong quá trình chuyển đổi.

Bà Lưu Anh khẳng định điều quan trọng hiện nay là không chỉ tăng cường sản xuất năng lượng, mà còn cần xây dựng một lưới điện vững mạnh, để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và đảm bảo nguồn cung điện cần thiết cho mức tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 10% trở lên.

Ngoài ra, Việt Nam cần tận dụng lợi thế đi sau, nguồn tài nguyên biển và sự ổn định chính trị của mình. Thông qua việc thực hiện các chiến lược này, Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh năng lượng, mà còn biến quá trình chuyển đổi năng lượng thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, đạt được mức tăng trưởng hai chữ số bền vững và chất lượng cao, cũng như những mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.

Công Tuyên-Quang Hưng/(TTXVN/Vietnam+)