An Giang: Khám phá “thủ phủ” của xe ngựa vang bóng một thời ở vùng Thất Sơn

Xe ngựa không chỉ là phương tiện mưu sinh mà đã trở thành biểu tượng văn hóa “độc bản”, lưu giữ linh hồn và tính cách phóng khoáng của những người dân chân chất nơi biên viễn Tây Nam.

Giữa dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, tiếng vó ngựa lọc cọc vẫn vang vọng khắp các phum, sóc như một biểu tượng kiêu hãnh của văn hóa bản địa vùng Bảy Núi An Giang.

Xe ngựa không chỉ là phương tiện mưu sinh mà đã trở thành biểu tượng văn hóa “độc bản”, lưu giữ linh hồn và tính cách phóng khoáng của những người dân chân chất nơi biên viễn Tây Nam.

Nốt trầm giữa nhịp sống hiện đại

Những ngày cận Tết Bính Ngọ 2026, chúng tôi ngược về vùng Bảy Núi An Giang, dọc theo Tỉnh lộ 948 đến xã An Cư, cách Long Xuyên khoảng 80km để khám phá “thủ phủ” của xe ngựa vang bóng một thời ở vùng Thất Sơn kỳ vĩ.

Với người dân các xã Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư của thị xã Tịnh Biên trước đây (nay là xã An Cư, tỉnh An Giang), tiếng vó ngựa “lộc cộc” chậm rãi mưu sinh giữa những ồn ào của phố thị như một bản nhạc hoài niệm, đầy kiêu hãnh của đồng bào Khmer vùng biên viễn.

Theo các bậc cao niên ở đây, khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, toàn vùng Bảy Núi từng có đến hàng trăm chiếc xe ngựa tấp nập ngược xuôi khắp các nẻo đường.

Những con ngựa cỏ vùng biên dù vóc dáng nhỏ nhắn nhưng lại sở hữu sức bền đáng kinh ngạc, có thể chở nặng tới hơn nửa tấn hàng hóa vượt qua cung đường núi gồ ghề, sình lầy - nơi những động cơ hiện đại nhất cũng phải “chào thua.”

Tuy nhiên, dưới sức ép của đô thị hóa và sự lên ngôi của các phương tiện chuyên chở tiện dụng, nghề “nài ngựa” (lái xe ngựa) chở hàng thuê đã có lúc tưởng chừng như lùi hẳn vào quá khứ.

Những bến xe ngựa sầm uất thuở nào giờ chỉ còn là bãi đất trống nằm cặp Tỉnh 948, thuộc xã An Cư, tỉnh An Giang. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)

Từ hàng trăm chiếc thời hoàng kim, nay toàn vùng chỉ còn khoảng 4-5 cỗ xe ngựa tập trung tại xã An Cư. Những bến xe ngựa sầm uất thuở nào giờ chỉ còn là bãi đất trống nằm dọc Tỉnh lộ 948 và những người nài ngựa cuối cùng ở vùng Bảy Núi hằng ngày chờ đợi một cuốc xe hiếm hoi.

Ông Chau Da (sinh năm 1965, ngụ ấp Vĩnh Lập, xã An Cư) cho biết, ngày xưa, vùng Bảy Núi An Giang xe ngựa thồ chở hàng nhiều vô kể, phần vì các phương tiện khác chưa có, phần vì đường núi gập ghềnh nên thời điểm đó chỉ có thể vận chuyển bằng xe ngựa.

Khác với vẻ hào nhoáng của xe ngựa ở các vùng miền khác, xe ngựa Bảy Núi khá đơn sơ, mộc mạc, bánh xe cũng làm bằng gỗ. Nhiều người hay gọi là “cỗ xe độc mã”, vì chỉ có một con ngựa kéo xe.

Khoảng những năm 50 của thế kỷ trước, xuất hiện loại bánh bơm hơi, vừa tiện lợi, ít tốn sức kéo hơn nên được dùng thay cho bánh gỗ. Nhờ vậy, xe ngựa có thể chở nặng 500 kg và đi nhanh hơn.

Xe ngựa không có tay vịn, người ngồi trên xe cứ lắc lư, lắc lư, bay bổng theo từng tiếng vó ngựa lộc cộc rất vui tai.

Tay vuốt nhẹ bờm chú ngựa xám khoảng 6 tuổi, ông Chau Sóc Kha (ngụ xã An Cư) kể, ngày xưa, có ngựa là có tiền, có việc làm ổn định. Xe ngựa ra bến là có người thuê chở hàng, từ củi, lúa giống tới phân bón, gỗ, vật liệu xây dựng... Có chuyến chỉ vài kilômét, có chuyến kéo dài cả chục kilômét.

Mỗi ngày, con ngựa đi không biết bao nhiêu lượt, mồ hôi người và ngựa hòa vào bụi đất đường quê. Những năm còn khỏe, trung bình mỗi ngày, ông Chau Sóc Kha kiếm được từ 100.000-200.000 đồng, tùy chuyến hàng. Tháng nào siêng chạy, sau khi trừ chi phí thức ăn, đóng móng, vẫn còn dư vài triệu đồng, khoản thu nhập đủ nuôi gia đình.

“Xã hội giờ phát triển, xe cơ giới nhiều nên người thuê xe ngựa chở hàng cũng ít dần. Mặc dù ngày có khách thuê chở hàng, ngày không nhưng nghề này nó ngấm vào máu rồi. Con ngựa không chỉ giúp mình kiếm sống (từ 400.000 - 500.000 đồng/ngày) mà còn là cái hồn của phum, sóc quê hương," ông Chau Sóc Kha chia sẻ.

Gìn giữ “nhịp phách” di sản

Cách đó không xa, anh Nonh Oanh Nô (sinh năm 1983, ngụ ấp Vĩnh Tâm) - một nài ngựa thế hệ thứ hai tại xã An Cư đang vừa uống cà phê vừa ngóng ra bãi đất trống phía đối diện chờ những cuốc xe đầu tiên trong ngày.

Hơn 10 năm theo nghề nài ngựa chở hàng thuê, anh Nô cho biết, dù không còn phổ biến như trước nhưng những nài ngựa như anh vẫn gắn bó với nghề bởi tình yêu và sự thấu hiểu dành cho loài vật thiết thân này.

Đặc biệt, xe ngựa vẫn là phương tiện đáp ứng nhu cầu đi lại của bà con, nhất là ở những phum, sóc xa, đường nhỏ, xe tải không thể tiếp cận. Theo anh Nô, phần lớn tài xế xe ngựa là nam giới người Khmer, họ xem đây là công việc mưu sinh nên bất kể trời mưa hay nắng vẫn đều đặn ra bến chờ khách.

“Người dân nơi đây coi ngựa là tài sản quý và đối đãi như thành viên trong gia đình. Gia đình tôi có 2 đời sống bằng nghề đánh xe ngựa chở thuê khắp vùng. Nhờ con ngựa kéo xe mà nhà tôi có thu nhập ổn định…” anh Nô tâm sự.

Dù không còn phổ biến như trước nhưng những nài ngựa ở Vùng Bảy Núi An Giang vẫn gắn bó với nghề bởi tình yêu và sự thấu hiểu dành cho loài vật thiết thân này. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)

Nhấp ngụm càphê đen không đường, mắt nhìn xa xem theo hướng cánh đồng thốt nốt, anh Nô nhớ lại, lúc nhỏ, tầm 13-14 tuổi, anh theo cha mình đánh xe ngựa rong ruổi khắp vùng chở hàng thuê. Lớn lên một chút, anh được cha mình tập đánh ngựa trong phum, sóc. Chẳng mấy chốc, anh Nô trở thành nài ngựa thực thụ và gắn bó với nghề đánh xe vì tiếng vó ngựa đã ăn sâu vào tiềm thức.

Anh Nô cho rằng mỗi người nài ngựa có những bí quyết riêng trong việc chọn giống và huấn luyện ngựa. Với ngựa thồ hàng, kéo xe, yếu tố khỏe mạnh được xem trọng, còn ngựa phục vụ du lịch tính nhu mì, thùy mị lại được đặt lên hàng đầu. Mua về nuôi, đến lúc ngựa được 2 năm tuổi bắt đầu tập đi trên đường lớn làm quen với xe cộ hay đi vào phum, sóc để rèn luyện kỹ năng đi vòng, leo dốc. Từ từ mới kéo xe không tải, sau đó tập kéo xe chở hàng nhẹ đến hàng nặng.

Với đặc tính hoang dã, ngựa không dễ dàng chịu nghe lời chủ ngay mà phải mất khá nhiều thời gian, công sức để thuần hóa. Để ngựa thồ hàng giỏi, cần chọn giống ngựa tốt, dáng chuẩn, có đôi chân to, khỏe, xoáy đẹp.

Ngoài ra, muốn ngựa nghe lời, mình phải vừa “đấm vừa xoa”, khi nó ngoan, nghe lời mình thường cho nó ăn cỏ, uống nước dừa, còn những lúc nó không nghe lời, phải quát mắng, thậm chí dùng đòn roi để dạy dỗ, tạo uy.

Ngày nay, trước sự phát triển của cơ sở hạ tầng và sự lên ngôi của xe cơ giới đã có lúc đẩy xe ngựa vào quên lãng. Thế nhưng, ở góc khuất các phương tiện xe cơ giới hiện đại phải "bó tay" - những ngõ hẻm phum sóc chật hẹp, những triền núi gập ghềnh, tiếng vó ngựa vẫn kiêu hãnh vang lên.

Giá trị của những chiếc xe ngựa không chỉ nằm ở kinh tế với mức thu nhập vài trăm nghìn đồng mỗi ngày mà còn thăng hoa thành nét văn hóa đặc trưng thu hút du khách.

Theo ông Ngô Văn Cường, Chủ tịch Hội Nông dân xã An Cư, nghề nuôi ngựa kéo xe từng quen thuộc ở địa phương khoảng hơn 20 năm trước. Khi kinh tế phát triển, chương trình xây dựng nông thôn mới lan tỏa về mọi ngả đường quê, đường đất được thay cho đường bê tông, đường nhựa, xe máy, xe ôtô tải thay dần xe ngựa.

Không còn người thuê chở hàng thường xuyên, đa số bà con bán ngựa, bán xe, chuyển kế sinh nhai, số ít vẫn còn giữ xe, giữ ngựa vì phần đam mê, phần họ chuyển hướng thích nghi trong bối cảnh mới.

“Những chiếc xe được tân trang, những chú ngựa được chăm sóc kỹ lưỡng, trở thành điểm nhấn độc đáo trong các tour du lịch trải nghiệm, đưa du khách khám phá các ngôi chùa cổ kính, cánh đồng thốt nốt thơ mộng, hay rực rỡ hoa tươi trong những đám cưới rước dâu truyền thống… ở vùng Bảy Núi An Giang. Mỗi cuốc xe không chỉ mang lại thu nhập từ 300.000-1.000.000 đồng cho người lái mà còn mang theo sứ mệnh kể câu chuyện về một vùng đất An Giang, mến khách, nghĩa tình,” Chủ tịch Hội Nông dân xã An Cư Ngô Văn Cường nhấn mạnh.

Rời xã An Cư giữa buổi trưa nắng gắt, tiếng vó ngựa lóc cóc dưới chân dãy Thất Sơn dù có lúc thưa vắng, nhưng vẫn mãi là một phần “hồn cốt” của vùng đất và con người An Giang.

Đó là biểu tượng cho sự kiên cường, dẻo dai và lòng thủy chung của con người với những giá trị xưa cũ giữa một thế giới đầy biến động. Mai này, dù đường sá có thênh thang, xe cộ có tấp nập, người ta vẫn sẽ mãi nhớ về hình ảnh những chiếc xe ngựa độc hành dưới bóng thốt nốt để lại sau lưng tiếng vó gõ nhịp vào thời gian, giữ cho văn hóa vùng biên viễn luôn đậm đà bản sắc dân tộc./.

(TTXVN/Vietnam+)