81 năm Quốc khánh 2/9: Nền tảng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới
Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam vươn lên đạt những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
81 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc Việt Nam đã trải qua một hành trình lịch sử đầy gian nan nhưng cũng rất đỗi tự hào để giữ vững nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam từng bước vươn lên, đạt những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Những thành quả đó tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
81 năm giữ vững nền độc lập
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”
81 năm qua, thực hiện lời thề thiêng liêng đó, toàn thể nhân dân Việt Nam đã không tiếc máu xương, công sức để giữ vững thành quả và phát huy giá trị của Cách mạng Tháng Tám, giữ vững nền độc lập dân tộc, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, dù cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc,” thù trong giặc ngoài đe dọa, khó khăn chồng chất, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Đảng, Nhà nước cùng toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu: thực hiện thắng lợi Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ trung ương đến địa phương; củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng nền kinh tế mới, văn hóa mới, đời sống mới.
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược đất nước ta một lần nữa, cả dân tộc Việt Nam lại đứng lên “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh,” tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, với niềm tin vững chắc “kháng chiến nhất định thắng lợi”! Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, tạo thành sức mạnh vô địch, giành thắng lợi vẻ vang, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, dân tộc ta lại phải bước vào cuộc chiến đấu chống cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Trước thách thức to lớn đó, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và Lời hiệu triệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đã nhất tề ra trận, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.
Trải qua cuộc chiến đấu trường kỳ, oanh liệt, nhân dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước liền một dải.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên hòa bình thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tập trung trí lực, ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm đầu sau khi thống nhất, Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức. Vừa phải khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải chiến đấu giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia; vừa bị bao vây, cấm vận, vừa phải tiếp tục tìm tòi, khảo nghiệm con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh
Đáp ứng đòi hỏi cấp bách của đất nước, Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đã khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra bước chuyển có ý nghĩa lịch sử trong tư duy và đường lối phát triển. Sau 40 năm, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, từng bước vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô lớn, độ mở cao, một quốc gia năng động và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Bốn thập niên đổi mới đã tạo nên những thay đổi sâu sắc về quy mô và sức mạnh của nền kinh tế. Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Việt Nam từng bước hình thành các động lực tăng trưởng mới, mở rộng quan hệ thương mại và tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu.
Năm 2025, GDP tăng 8,02%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt trên 930 tỷ USD, xuất siêu 20,03 tỷ USD, đánh dấu năm thứ mười liên tiếp xuất siêu. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026, khi GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước.
Cùng với thương mại, đầu tư và du lịch ngày càng trở thành những động lực quan trọng. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có hơn 45.000 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD. Việt Nam ngày càng chú trọng thu hút đầu tư theo chiều sâu, tập trung vào chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Du lịch cũng ghi dấu ấn khi năm 2025 đón 21,2 triệu lượt khách quốc tế, mức cao nhất từ trước đến nay; 6 tháng đầu năm 2026 đạt gần 12,3 triệu lượt. Qua đó vừa tạo thêm nguồn lực cho phát triển, vừa góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.
Diện mạo đất nước cũng thay đổi mạnh mẽ cùng quá trình phát triển. Hệ thống cao tốc, cầu, cảng biển, sân bay, đô thị và hạ tầng số được đầu tư ngày càng đồng bộ, mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết giữa các vùng.
Đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành và đưa vào khai thác 3.345 km đường bộ cao tốc và 1.711 km đường bộ ven biển. Việc đưa vào khai thác hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng sự phát triển của các công trình hạ tầng chiến lược, đang tạo thêm những động lực mới cho quá trình hiện đại hóa đất nước.
Không chỉ mở rộng không gian vật chất, Việt Nam cũng đang đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức và quản trị quốc gia. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh còn 34 tỉnh, thành phố và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025 hướng tới tinh gọn bộ máy, tăng cường phân cấp, phân quyền, mở rộng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Những thay đổi này cho thấy quá trình phát triển đang được đặt trong yêu cầu đồng thời đổi mới thể chế, nâng cao năng lực quản trị và tạo dựng nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới.
Thành quả phát triển còn được thể hiện rõ trong việc nâng cao đời sống nhân dân. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng được cụ thể hóa bằng những chính sách thiết thực.
Đến cuối năm 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm còn 2,95%; các chính sách về bảo hiểm xã hội, hỗ trợ người yếu thế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh và mở rộng cơ hội phát triển cho người dân.
Trong y tế, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt hơn 95,2% dân số, nhiều kỹ thuật y khoa tiên tiến được làm chủ. Trong giáo dục, chính sách miễn học phí đối với trẻ em mầm non và học sinh phổ thông trong các cơ sở giáo dục công lập từ năm học 2025-2026 và từng bước miễn phí sách giáo khoa tiếp tục mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em mọi vùng miền.
Cùng với kinh tế và xã hội, văn hóa ngày càng được khẳng định là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực và động lực của phát triển. Việc bảo tồn, phát huy di sản, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và đưa nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế góp phần củng cố bản sắc dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm và quảng bá hình ảnh đất nước.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới. Việt Nam đã từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học; Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp Việt Nam thứ 44/139 nền kinh tế.
Chuyển đổi số cũng ngày càng đi sâu vào sản xuất, kinh doanh và đời sống, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trên nền tảng những thành tựu trong nước, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tham gia hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng và đảm nhiệm ngày càng nhiều trọng trách đa phương.
Việc tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028 với số phiếu ủng hộ cao nhất Nhóm châu Á-Thái Bình Dương là một minh chứng cho uy tín ngày càng cao của Việt Nam.
Từ hội nhập để phát triển, Việt Nam đang chuyển mạnh sang chủ động đóng góp, kiến tạo môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển, đồng thời tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ đất nước.

Kiến tạo tương lai Việt Nam
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội lẫn thách thức. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, tạo động lực tăng trưởng mới và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực của đất nước.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 6/8/2026 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Theo đó, chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào các yếu tố truyền thống sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và khơi thông nguồn lực xã hội phải trở thành những nhiệm vụ trọng tâm.
Giữ vững độc lập, tự chủ trong giai đoạn mới không đồng nghĩa với khép kín. Việt Nam chủ trương chủ động hội nhập sâu rộng, tham gia hiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút nguồn lực quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Hội nhập càng sâu rộng, năng lực tự chủ càng phải cao.
Trong quá trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực trực tiếp của phát triển. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định đây là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đưa đất nước phát triển bứt phá.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và hướng tới một nền kinh tế số có quy mô tối thiểu 50% GDP vào năm 2045.
Thực hiện mục tiêu đó, cùng với ưu tiên đầu tư cho máy móc, hạ tầng Việt Nam đang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp được coi là chủ thể quan trọng, nhà khoa học được phát huy năng lực, người dân được tiếp cận công nghệ và Nhà nước tạo dựng thể chế thuận lợi cho sáng tạo. Cùng với đó, nỗ lực làm chủ công nghệ, nhất là những công nghệ chiến lược, sẽ góp phần trực tiếp nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia.
Kiến tạo tương lai cũng trước hết là kiến tạo con người. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải có nguồn nhân lực đủ trình độ để làm chủ tri thức, công nghệ và những phương thức sản xuất mới. Giáo dục và đào tạo vì thế giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục và tăng cường đào tạo các lĩnh vực công nghệ, kỹ năng số đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Cùng với giáo dục, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là một nền tảng quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống. Nghị quyết 72-NQ/TW tiếp tục đặt ra những giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Cùng với đó, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và nâng cao hiệu quả đối ngoại tiếp tục là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Từ mùa Thu lịch sử năm 1945 đến hôm nay, giữ vững độc lập luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình xây dựng và phát triển đất nước.
Trong giai đoạn mới, độc lập, tự chủ càng gắn chặt với năng lực nội sinh, sức mạnh kinh tế, khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và vị thế quốc tế. Phát huy những thành tựu đã đạt được, Việt Nam đang chủ động nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, vững bước tiến vào tương lai./.
