80 năm son sắt, tự hào mang họ Bác Hồ
Tròn 80 năm kể từ ngày đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân núi Cóc Tăng nguyện mang họ Hồ của Bác, lời thề năm ấy vẫn được gìn giữ như một di sản tinh thần vô giá.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng bào Vân Kiều, Pa Kô ở vùng núi phía Tây Quảng Trị sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, săn bắt, hái lượm.
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, giao thông cách trở khiến đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, nhiều người chưa có họ tên đầy đủ, chưa có điều kiện tiếp cận những biến chuyển lớn lao đang diễn ra trên khắp đất nước.
Thế nhưng, chính nơi rừng sâu núi thẳm ấy, những cán bộ cách mạng đầu tiên đã vượt suối, băng rừng mang theo ánh sáng của Đảng, mang theo hình ảnh Bác Hồ và lá cờ đỏ sao vàng đến với đồng bào.
Những chủ trương của cách mạng, khát vọng độc lập dân tộc và niềm tin về một tương lai mới đã từng bước bén rễ, nảy mầm giữa đại ngàn Trường Sơn.
Lịch sử Đảng bộ huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị cũ) ghi nhận, ngày 26/6/1946, dưới sự tổ chức của Mặt trận Liên Việt, các già làng, trưởng bản người Vân Kiều, Pa Kô tụ họp dưới chân núi Cóc Tăng tổ chức lễ ăn thề lịch sử.
Trong không khí thiêng liêng của núi rừng, các già làng cắt máu hòa vào ché rượu lớn, cùng uống và thề với Giàng, với núi rừng rằng sẽ một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ, quyết không phản bội cách mạng.
Đó không chỉ là một nghi lễ truyền thống của đồng bào mà còn là sự lựa chọn có ý thức đối với con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ ra.
Tại lễ ăn thề lịch sử ấy, các già làng đồng thanh quyết định lấy họ Hồ của Bác làm họ chung cho đồng bào Vân Kiều, Pa Kô. Từ đó, người dân miền Tây Quảng Trị chính thức mang họ Hồ, nguyện suốt đời đi theo Đảng, theo cách mạng.
Già làng Hồ Văn Phương, 89 tuổi, ở thôn Cu Dông, xã Khe Sanh chia sẻ: “Đó không đơn thuần là việc lựa chọn một dòng họ. Đó là sự gửi gắm niềm tin, là lời hứa thiêng liêng của đồng bào đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.”
Lời thề năm ấy nhanh chóng trở thành hành động. Đồng bào động viên con em tham gia kháng chiến, gia nhập bộ đội Cụ Hồ đánh thực dân Pháp. Năm 1947, những người con đầu tiên mang họ Hồ như Hồ Ray, Hồ Tơ, Hồ Hăng, Hồ Thiên, Hồ Cam, Hồ Hương... đã chiến đấu dũng cảm trên mặt trận Đường 9, góp phần bảo vệ quê hương.
Đến tháng 6/1957, khi Bác Hồ vào thăm Quảng Bình, đồng bào Vân Kiều, Pa Kô ở Vĩnh Linh cử ông Hồ Ray đại diện ra gặp Bác để bày tỏ nguyện vọng được tiếp tục mang họ của Người. Cuộc gặp gỡ ấy càng làm sâu sắc thêm tình cảm gắn bó giữa đồng bào với Bác Hồ.
Từ đó, phong trào hội thề tiếp tục lan rộng khắp các bản làng. Ngay cả trong những năm tháng chính quyền Mỹ - Diệm tìm mọi cách đàn áp phong trào cách mạng, ép buộc đồng bào từ bỏ họ Hồ, bà con vẫn kiên quyết giữ trọn lời thề với Bác.
Chính sự kiên định ấy đã trở thành nền tảng tinh thần để đồng bào đứng vững trước mọi thử thách của lịch sử.
Ông Nguyễn Quang Hưng, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Huyện ủy Hướng Hóa (cũ) cho biết, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào Vân Kiều, Pa Kô đã một lòng theo Đảng, bám đất, bám bản, nuôi giấu cán bộ, dẫn đường cho bộ đội, vận chuyển lương thực, vũ khí và trực tiếp tham gia chiến đấu.
Bằng tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng kiên cường, đồng bào đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiều chiến công vang dội được lập nên, tiêu biểu là Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968, góp phần giải phóng Hướng Hóa ngày 9/7/1968. Chiến thắng ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư biểu dương, khen ngợi.
Già làng Hồ Văn Ray, năm nay 96 tuổi, ở thôn Tà Ri 2, xã Khe Sanh, tự hào nói: “Các thế hệ đồng bào Vân Kiều, Pa Kô đều rất tự hào về họ Hồ của mình. Lớp lớp con cháu hậu sinh kế tiếp nhau mang họ Hồ. Trong mỗi nếp nhà sàn của người Vân Kiều, Pa Kô đều có bàn thờ Bác. Trong trái tim người Vân Kiều, Pa Kô, Bác Hồ là tình yêu máu thịt; đồng bào luôn biết ơn công lao to lớn của Đảng, của Bác Hồ đã giúp đồng bào có độc lập, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.”
Đối với đồng bào Vân Kiều, Pa Kô, được mang họ Hồ của Bác là niềm vinh dự vô cùng lớn lao. Họ Hồ không chỉ là một cái họ mà còn là biểu tượng của lòng thủy chung, là sợi dây tinh thần kết nối các thế hệ với truyền thống cách mạng và là lời nhắc nhở mỗi người phải sống xứng đáng với niềm tin mà cha ông đã gửi gắm suốt 80 năm qua.
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, tình cảm ấy được thể hiện bằng những việc làm bình dị mà cao đẹp. Những mái nhà sàn trở thành nơi che chở cán bộ, những con đường mòn xuyên rừng trở thành tuyến giao liên bí mật.
Dù bom đạn cày xới núi rừng, đồng bào vẫn gùi gạo, mang muối, tiếp tế cho bộ đội. Trong tâm khảm của người Vân Kiều, Pa Kô, Bác Hồ chưa bao giờ là hình ảnh xa vời. Bác hiện diện trong từng ngôi nhà, trên bàn thờ trang trọng nhất của mỗi gia đình.
Ông Hồ Văn Xương, 95 tuổi, ở thôn Tà Rùng nhớ lại: “Nghe cán bộ báo tin Bác mất, cả bản im phăng phắc rồi òa khóc. Chúng tôi tự làm bàn thờ gỗ rừng, thắp hương tiễn Bác. Ai cũng đau như mất người thân ruột thịt.”
Từ đó đến nay, mỗi mùa lúa mới, mỗi dịp lễ, Tết, đồng bào vẫn dâng lên Bác những lễ vật đầu tiên như một lời hẹn ước thủy chung với Người.

Viết tiếp câu chuyện giữa đại ngàn Trường Sơn
Sau ngày đất nước thống nhất, ánh sáng của Đảng tiếp tục soi đường cho đồng bào Vân Kiều, Pa Kô xây dựng cuộc sống mới. Những con đường bê tông đã nối liền các bản làng.
Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế được đầu tư đến tận vùng sâu, vùng xa. Đồng bào biết trồng lúa nước, phát triển cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, kinh tế vườn rừng và chăn nuôi.
Từ những bản làng từng chịu nhiều mất mát bởi chiến tranh, diện mạo miền Tây Quảng Trị hôm nay đang từng ngày đổi thay. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên. Nhiều thanh niên Vân Kiều, Pa Kô đã tốt nghiệp đại học, trở thành cán bộ, giáo viên, bác sĩ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, tiếp tục đóng góp cho quê hương.
Ông Phan Ngọc Long, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Hướng Phùng chia sẻ: “Đồng bào luôn nhắc nhau: Có cuộc sống hôm nay là nhờ Bác, nhờ Đảng. Phải biết ơn bằng cách làm ăn giỏi, nuôi con học hành, giữ biên cương vững chắc.”
Tinh thần ấy được thể hiện qua những mô hình kinh tế hiệu quả, những cánh rừng gỗ lớn xanh tốt, những đồi cà phê Khe Sanh trĩu quả và các mô hình du lịch cộng đồng đang từng bước hình thành.
Các già làng, trưởng bản tiếp tục là cầu nối đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với từng hộ dân; vận động bà con giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống văn minh và chung tay phát triển quê hương.
Trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào dài hơn 200 km, mỗi bản làng Vân Kiều, Pa Kô hôm nay vẫn là một “cột mốc sống” bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Già làng Hồ Văn Tỉu, xã Hướng Lập tâm sự:
“Bà con coi biên giới như nhà mình. Thấy người lạ vào là báo ngay cho đồn. Có đêm, cả bản cùng bộ đội đi tuần, ăn cơm nắm, uống nước suối. Tất cả vì tình thương với Bác, với Đảng, với Tổ quốc.”
Theo thống kê, xã Khe Sanh hiện có 8.995 người là đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa Kô, chiếm khoảng 33% dân số toàn xã. Hơn 98% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia; hệ thống thông tin liên lạc phủ sóng đến tất cả các thôn, bản; 27/28 thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng. Giáo dục, y tế, hạ tầng và đời sống người dân không ngừng được cải thiện.
Bà Thái Thị Nga, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Khe Sanh nhấn mạnh, kỷ niệm 80 năm Ngày đồng bào Vân Kiều, Pa Kô mang họ Bác Hồ không chỉ là dịp để tự hào về truyền thống vẻ vang mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm đối với tương lai.
Địa phương sẽ tiếp tục phát triển kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững, bảo tồn văn hóa truyền thống, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng thế hệ trẻ có khát vọng cống hiến.
Tròn 80 năm kể từ ngày đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân núi Cóc Tăng nguyện mang họ Hồ của Bác, lời thề năm ấy vẫn được gìn giữ như một di sản tinh thần vô giá.
Giữa đại ngàn Trường Sơn hôm nay, những người mang họ Hồ vẫn cần mẫn lao động, học tập, giữ gìn bản sắc văn hóa và chung sức bảo vệ biên cương Tổ quốc. 80 năm đã đi qua, núi Cóc Tăng vẫn sừng sững giữa đại ngàn như một chứng nhân lịch sử.
Họ Hồ hôm nay không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô ở miền Tây Quảng Trị, mà còn là biểu tượng sinh động của lòng yêu nước, niềm tin son sắt với Đảng, với Bác Hồ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, được bồi đắp và gìn giữ qua nhiều thế hệ./.
