50 năm Thành phố mang tên Bác: Sáng mãi tên Người - Thành phố Hồ Chí Minh

Trong trái tim Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có một miền Nam thành đồng Tổ quốc, đi trước về sau - nơi người ra đi tìm đường cứu nước và luôn cháy bỏng một khát vọng trở lại Sài Gòn, thăm lại miền Nam.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đối với miền Nam, đối với Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có tình cảm yêu thương đặc biệt sâu nặng.

Trong trái tim Người luôn có một miền Nam thành đồng Tổ quốc, đi trước về sau; một Sài Gòn chan chứa tình thương yêu - nơi Người đã cất bước ra đi tìm đường cứu nước và luôn cháy bỏng một khát vọng được trở lại Sài Gòn, thăm lại miền Nam.

Và đồng bào miền Nam cũng luôn dành những tình cảm yêu quý nhất, kính trọng nhất đối với Bác như những câu thơ đầy xúc động của nhà thơ Tố Hữu: “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.”

“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam”

Sinh ra ở quê hương Nam Đàn, Nghệ An, nhưng thời niên thiếu, cậu bé Nguyễn Sinh Cung và gia đình lại sống ở Cố đô Huế.

Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn-Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới 21 tuổi trên chiếc tàu mang tên Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu cuộc hành trình vượt đại dương tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.”

Và từ đấy đến lúc đi xa, ngót 60 năm, Người chưa một lần được về lại mảnh đất miền Nam thân yêu; song hình ảnh đồng bào, chiến sỹ miền Nam luôn in đậm trong trái tim Người.

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Bác ơi” viết năm 1969, đã nói hộ tấm lòng của Bác đối với miền Nam, cũng là tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác: “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu niên là dũng sỹ diệt Mỹ ở miền Nam ra thăm miền Bắc (3/1962). (Ảnh: TTXVN)

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi đất nước giành được độc lập với Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bước tiếp vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sát cánh, chia sẻ đau thương mất mát với đồng bào miền Nam anh dũng kiên cường - Thành đồng Tổ quốc.

Trong trái tim của Người, mỗi câu nói, mỗi việc làm, đều ghi đậm dấu hình Nam Bộ. Người nói: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” và “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Ngày 1/6/1946, trước khi lên đường sang Pháp tìm giải pháp cứu vãn hòa bình ở Việt Nam, Bác đã gửi thư cho đồng bào Nam bộ khẳng định: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam.”

Tại Hội nghị Việt-Pháp ở Fontainebleau, Bác tuyên bố: “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Trong lời tuyên bố với quốc dân khi từ Pháp về, Bác khẳng định: “Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc.”

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, Người kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 6 năm Ngày Nam bộ kháng chiến (1952) và bày tỏ: “Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam bộ. Tôi theo dõi từng giờ, từng phút cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta.”

Kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đất nước lại bị chia cắt, Bác viết thư gửi bộ đội và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc (9/1954) phác ra tiến trình: “Đến ngày hòa bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta.”

“Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Anh hùng, dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc (28/2/1969). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Năm 1962, Bác vui mừng được gặp Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thǎm miền Bắc. Bác đã đặt bàn tay lên ngực trái rồi cảm động nói: Bác chẳng có gì tặng lại cả, chỉ có cái này: Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi.

Năm 1963, khi được tin Quốc hội tặng thưởng huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Trong khi miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam, thì đồng bào miền Nam anh dũng chiến đấu để bảo vệ công cuộc xây dựng hoà bình ở miền Bắc. Cho nên nhân dân miền Bắc từng giờ từng phút nhớ đến đồng bào miền Nam. Gần 20 năm trường, hết đấu tranh chống thực dân Pháp, lại đấu tranh chống Mỹ-Diệm, đồng bào miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” và xứng được tặng Huân chương cao quý nhất. Vì những lẽ đó tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao tặng cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng.”

Nǎm 1965, gặp đoàn anh hùng dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc. Khi cả đoàn khóc vì sung sướng, cảm động và vây quanh Bác, Người xúc động nói: “Bác mong các cháu lắm, Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm.”

Bác hỏi chuyện chiến trường và được biết tâm tư của đồng bào cán bộ chiến sỹ miền Nam “không sợ gian khổ, không sợ chết mà chỉ sợ một điều… sau này không được nhìn thấy Bác”. Vừa nghe xong, Bác trào dâng nước mắt, khóc vì thương nhớ miền Nam.

Cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng được Bác nâng niu, chăm sóc, cho trồng ngay tại ngôi nhà sàn Bác ở; tấm bản đồ “Bố trí binh lực địch ở miền Nam Việt Nam đến tháng 8/1969” được treo ở ngôi nhà 67 là nơi Bác thường đối diện, trầm tư­. Vào các dịp lễ, Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam, “vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó" (Lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Tháng 8/1969, Bác trên giường bệnh nhưng vẫn nghe báo cáo tình hình chiến trường, vẫn theo dõi bản đồ chiến sự miền Nam. Chiếc đài bán dẫn là chiến lợi phẩm thu được ở trận Phước Thành tháng 9/1961 gửi ra biếu Bác, hàng ngày cung cấp tin tức trong nước, tin thế giới và tin chiến trường miền Nam.

Có hôm Bác mệt và muốn uống nước dừa từ cây dừa giống ở miền Nam gửi ra, đồng chí phục vụ hái dừa từ cây dừa được Bác chăm bón, Bác nhấp chút nước dừa ngọt mát và như cảm thấy ấm lành hơn. Mỗi khi tỉnh dậy sau cơn mệt nặng, bao giờ Bác cũng hỏi tin tức về miền Nam.

Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc, Bác đã dành tình cảm, niềm tin mãnh liệt cho đồng bào miền Nam, cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc. Người viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.”

Sáng mãi tên Người - Thành phố Hồ Chí Minh

Đáp lại tình yêu thương của Bác, nhân dân miền Nam luôn dành cho Người niềm kính yêu vô hạn. Trong những năm kháng chiến, chân dung Bác được đồng bào cất giữ như một báu vật. Nhiều gia đình, nhiều cơ sở cách mạng bí mật lập bàn thờ Bác, treo ảnh Bác giữa rừng sâu, trong địa đạo hay trong những căn hầm bí mật. Mỗi khi nhắc đến Bác, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam đều xem đó là nguồn động viên to lớn để vượt qua gian khổ, tiếp tục chiến đấu.

Sau khi Bác qua đời vào ngày 2/9/1969, nỗi đau bao trùm khắp cả nước. Ở miền Nam, dù đang trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhiều nơi vẫn tổ chức lễ truy điệu Bác ngay giữa vùng giải phóng hoặc trong điều kiện bí mật. Có những chiến sĩ trước giờ xuất kích đã hứa với Bác sẽ chiến đấu đến cùng để hoàn thành tâm nguyện thống nhất đất nước của Người.

Thực hiện Di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và đồng bào Nam Bộ, Sài Gòn-Gia Định đã nêu cao khí phách của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đạp bằng muôn trùng gian nguy, chiến đấu ngoan cường, kiên trung, bất khuất, cùng cả nước thực hiện trận quyết chiến chiến lược - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xứng danh “Đất thép Thành đồng.”

Sau khi non sông thu về một mối, nhận thấy trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn-Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc.

Và thể theo nguyện vọng toàn dân từ Bắc chí Nam, ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã thông qua nghị quyết lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho thành phố Sài Gòn-Gia Định.

Sau 50 năm mang tên Bác, Thành phố Hồ Chí Minh đã khoác lên mình một vóc dáng đô thị vạm vỡ, vươn mình mạnh mẽ. Những thành tựu về mọi mặt đã khẳng định giá trị to lớn của hòa bình, thống nhất đất nước, đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học-công nghệ hàng đầu cả nước.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố duy trì ở mức cao trong nhiều giai đoạn. Giai đoạn 1991-1995 đạt bình quân 12,62%/năm; giai đoạn 1996-2010 liên tục đạt mức hai con số; giai đoạn 2011-2020 duy trì khoảng 6,86%/năm trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động.

Sau đại dịch COVID-19, Thành phố phục hồi mạnh mẽ, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm kinh tế của cả nước.

Từ ngày 1/7/2025, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được sáp nhập, mở ra một không gian phát triển mới.

Trên nền tảng không gian được mở rộng, Thành phố xác lập mô hình phát triển “3 vùng - 1 đặc khu - 3 hành lang - 5 trụ cột”, thể hiện tư duy phát triển tổng thể, phân vai rõ ràng giữa các khu vực, phát huy tối đa lợi thế so sánh, đồng thời tạo động lực tăng trưởng bền vững cho toàn vùng phía Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh kết thúc năm 2025 bằng những con số kỷ lục, đóng góp 23,5% GDP và 1/3 tổng thu ngân sách cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt 8.755 USD.

Cùng với những bước tiến dài trong phát triển kinh tế, diện mạo của Thành phố Hồ Chí Minh đã có những thay đổi lớn sau 5 thập kỷ.

Đến nay, thành phố có hơn 4.000 km đường bộ, hàng trăm cây cầu lớn nhỏ. Đại lộ Đông Tây, hầm Thủ Thiêm, cầu Phú Mỹ và các tuyến cao tốc liên vùng được đưa vào sử dụng đã hình thành nên mạng lưới giao thông hiện đại.

Hầm Thủ Thiêm dài 1.490m bao gồm 371m hầm dìm, là hạng mục quan trọng nhất của dự án Đại lộ Đông Tây, công trình lịch sử của Thành phố Hồ Chí Minh. (Ành: Thanh Vũ/TTXVN)

Các khu đô thị mới, như Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn cũng góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo đô thị. Việc đưa vào vận hành tuyến metro số 1 (Bến Thành-Suối Tiên) đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phát triển giao thông công cộng khối lượng lớn.

Trên nền tảng đó, các khu công nghệ cao, Công viên phần mềm Quang Trung, Khu nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm trí tuệ nhân tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo từng bước hình thành và hiện tại là Trung tâm tài chính quốc tế tạo động lực mạnh mẽ, đưa thành phố trở thành cực tăng trưởng quan trọng về khoa học-công nghệ, sáng tạo của cả nước.

Song hành với phát triển kinh tế, không gian đô thị tiếp tục được mở rộng theo hướng bền vững. Nhiều dự án hạ tầng môi trường, chống ngập, cải tạo kênh rạch như Tham Lương-Bến Cát, Tây Sài Gòn… được triển khai, vừa giải quyết thách thức đô thị, vừa nâng cao chất lượng sống người dân.

Lĩnh vực văn hóa-xã hội cũng có bước phát triển rõ nét với hệ thống giáo dục, y tế, thiết chế văn hóa ngày càng hoàn thiện; đồng thời hình thành nhiều công trình văn hóa mang tính biểu tượng như Nhà hát Giao hưởng-Nhạc, Vũ kịch tại Thủ Thiêm, Rạp xiếc và biểu diễn đa năng Phú Thọ, góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa.

Để chào mừng cột mốc lịch sử 50 năm tự hào mang tên Bác, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua sôi nổi trong toàn hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Dự kiến sẽ có hơn 100 dự án hạ tầng kỹ thuật và xã hội được khởi công hoặc hoàn thành trong dịp này.

Những công trình trọng điểm mang tầm vóc quốc gia như tuyến đường sắt Thủ Thiêm-Long Thành, cao tốc Hồ Tràm-Sân bay quốc tế Long Thành, mở rộng đường Nguyễn Tất Thành, cụm cảng biển Cái Mép Hạ và đặc biệt là dự án cầu hoặc hầm vượt biển Cần Giờ-Vũng Tàu đang được đẩy nhanh tiến độ.

Khi các công trình này hoàn thành, mạng lưới giao thông và logistics của toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ có thêm dư địa phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh các công trình hạ tầng giao thông, Thành phố Hồ Chí Minh triển khai hàng loạt dự án trên lĩnh vực an sinh xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, cải thiện môi trường…

Đáng chú ý là các dự án cải thiện môi trường nước khu vực Bình Dương, Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng-Khánh Hội và cây xanh công cộng ven sông Sài Gòn, các dự án nhà ở xã hội: Khu 3 và Khu 4 Định Hòa, tại phường Chánh Hiệp; Khu 2 và Khu 7 Việt Sing, tại phường An Phú.

50 năm Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Bác kính yêu, niềm tự hào ấy luôn ngời sáng trong tim của mỗi người dân Thành phố. Với tình yêu lớn dành cho Bác, cùng khát khao vươn lên, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đạt thêm nhiều thành tựu mới trên chặng đường phía trước. Đúng như lời khẳng định trong bài hát “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” của nhạc sỹ Cao Việt Bách: “Thành phố Hồ Chí Minh, ngời ngời rực sáng tương lai/ Trong mỗi trái tim, trong mỗi ước mơ/ Trong mỗi cuộc đời ta luôn có Bác/ Lời Bác thiết tha dìu dắt chúng ta/ Sáng mãi tên Người/ Thành phố Hồ Chí Minh.”./.

(TTXVN/Vietnam+)