Số 17 - 2026
I. NHỮNG VẤN ĐỀ, SỰ KIỆN QUAN TRỌNG
1. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng trong khu vực kinh tế tư nhân
Sau hơn 7 năm thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân đạt một số kết quả tích cực. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có 15.221 tổ chức đảng, tăng 25,92%, có 187.034 đảng viên, tăng 2,21% so với năm 2019. Nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, doanh nghiệp, doanh nhân và người lao động đã có chuyển biến rõ nét; các tổ chức đảng từng bước phát huy vai trò hạt nhân chính trị, cầu nối giữa doanh nghiệp với cấp uỷ, chính quyền và người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng chưa tương xứng với quy mô, vị trí, vai trò và tốc độ phát triển ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân, số lượng tổ chức đảng, đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân còn thấp; công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên còn gặp nhiều khó khăn; mô hình tổ chức, phương thức hoạt động ở một số nơi chưa phù hợp; việc tổ chức sinh hoạt đối với đảng viên làm việc theo ca, kíp, phân tán, thường xuyên biến động còn bất cập; có nơi còn nặng về vận động hành chính, giao chỉ tiêu số lượng, chưa chú trọng chất lượng kết nạp hoặc chưa thu hút được quần chúng ưu tú tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Nguyên nhân là do một số cấp uỷ chưa thật sự quyết liệt, chưa coi trọng nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng; nội dung, phương thức hoạt động chậm đổi mới, chưa phù hợp với đặc thù doanh nghiệp; một bộ phận chủ doanh nghiệp, người lao động chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của tổ chức đảng trong doanh nghiệp.
Ngày 19/8/2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, yêu cầu cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Đổi mới mạnh mẽ công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên. Xây dựng hình ảnh người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân thời kỳ mới. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác xây dựng Đảng khu vực kinh tế tư nhân. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện.
Nhiệm vụ, giải pháp Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, được cụ thể như sau: Xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân đồng bộ với mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới, thích ứng với nền kinh tế số và các mô hình sản xuất kinh doanh mới. Tổ chức đảng trong doanh nghiệp thực sự là hạt nhân chính trị, đội ngũ đảng viên là nòng cốt trong xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tuân thủ pháp luật, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong lao động, sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suất lao động; là cầu nối tin cậy giữa doanh nghiệp, người lao động với cấp uỷ, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội; góp phần nâng cao uy tín, vị thế, trách nhiệm của tổ chức đảng với người lao động, cộng đồng và đất nước.
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hình thức sinh hoạt của tổ chức đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả, hấp dẫn, phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp hoạt động trên nhiều địa bàn; trong đó tập trung vào việc chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả, an toàn lao động, quan hệ lao động, văn hoá doanh nghiệp, chuyển đổi số, trách nhiệm xã hội. Kết hợp linh hoạt giữa sinh hoạt đảng trực tiếp và sinh hoạt đảng trực tuyến, phù hợp với đặc thù doanh nghiệp hoạt động theo ca, kíp, đa địa bàn. Không làm phát sinh thủ tục, văn bản, cuộc họp không cần thiết, không ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, bí thư chi bộ và đảng viên trong doanh nghiệp có bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, am hiểu doanh nghiệp, có uy tín cao với người lao động và chủ doanh nghiệp. Quan tâm lựa chọn, bồi dưỡng, khuyến khích chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý, người lao động có uy tín, năng lực, phẩm chất chính trị tham gia cấp uỷ và các hoạt động của tổ chức đảng. Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng; trong đó, lấy chất lượng sinh hoạt, chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, kết quả thực hiện nhiệm vụ làm tiêu chí chủ yếu. Kịp thời củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động đối với những tổ chức đảng hoạt động hình thức, hiệu quả thấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát, cắt giảm quy trình, thủ tục không phù hợp với đặc thù doanh nghiệp; rà soát, đơn giản hoá chế độ báo cáo, quy trình nghiệp vụ công tác đảng...
Đối với doanh nghiệp đã có đủ đảng viên chính thức nhưng chưa thành lập tổ chức đảng, cấp uỷ có thẩm quyền rà soát, hướng dẫn thành lập theo quy định. Đối với doanh nghiệp chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức đảng, cần phân công cấp uỷ viên, đảng viên theo dõi, bồi dưỡng nguồn, tổ chức sinh hoạt đảng phù hợp và xây dựng lộ trình thành lập khi đủ điều kiện. Đối với doanh nghiệp chưa có đảng viên, cần tập trung phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên.
2. Mục tiêu của Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới
Ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, nêu rõ các mục tiêu phấn đấu như sau:
Mục tiêu tổng quát là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, Cương lĩnh chính trị và đường lối của Đảng giữ vững vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, được bảo vệ vững chắc, vận dụng và phát triển sáng tạo. Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành văn hoá trong ứng xử và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Công tác tư tưởng vận hành thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, trên cả không gian thực và không gian số, ở trong nước và ngoài nước. Toàn Đảng và hệ thống chính trị ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; an ninh tư tưởng được bảo đảm trong mọi tình huống.
Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có bản lĩnh chính trị, đạo đức, trí tuệ, năng lực và uy tín. Hệ thống thông tin cơ sở đổi mới căn bản, phủ kín địa bàn dân cư; cùng với hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung tạo thành một chỉnh thể thống nhất, liên thông, an toàn trên nền dữ liệu tin cậy, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, niềm tin của Nhân dân và đồng thuận xã hội được củng cố vững chắc; lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, sức đề kháng tư tưởng của toàn xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, trở thành nguồn lực nội sinh để thực hiện thành công mô hình phát triển mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Đến năm 2030, Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh được thực hành thường xuyên, thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành văn hoá trong ứng xử và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân: 100% cấp uỷ, tổ chức đảng đưa công tác tư tưởng vào chương trình công tác và nội dung kiểm điểm hằng năm; việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh có chuyển biến rõ nét, thực chất, thể hiện bằng chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và mức độ hài lòng, niềm tin của Nhân dân. Hệ thống học liệu số, dữ liệu số phục vụ giáo dục lý luận chính trị và học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh được hoàn thiện phù hợp với từng nhóm đối tượng, liên thông với kho dữ liệu số quốc gia về lý luận chính trị, văn kiện Đảng, lịch sử Đảng và dữ liệu số Di sản Hồ Chí Minh. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam ngày càng được cụ thể hoá và thực hành trong cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư.
Nền tảng tư tưởng của Đảng được bảo vệ vững chắc; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" bị ngăn chặn, đẩy lùi; an ninh tư tưởng được bảo đảm: Hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở dữ liệu luận cứ dùng chung phục vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được bổ sung, hoàn thiện và sử dụng hiệu quả. Nhận diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với 100% quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội; ngăn chặn kịp thời 100% nội dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; mức độ lan toả của nội dung xấu độc trong nước giảm tối thiểu 70% so với năm 2026. Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" được phát hiện, cảnh báo và xử lý kịp thời từ cơ sở, không để kéo dài, tích tụ; vi phạm kỷ luật phát ngôn của cán bộ, đảng viên giảm mạnh, các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm theo quy định. Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin được ban hành và vận hành thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.
Niềm tin của Nhân dân được củng cố vững chắc, đồng thuận xã hội được tạo lập thực chất: Toàn bộ chủ trương, nghị quyết, chính sách được định hướng nhận thức thống nhất, kịp thời trong toàn Đảng, có phương án tuyên truyền, giải thích, đối thoại đi cùng ngay từ khi xây dựng chính sách. Niềm tin của Nhân dân và mức độ đồng thuận xã hội tăng vững chắc hằng năm. Tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị chính đáng của Nhân dân được nắm, tiếp nhận, phản hồi và giải quyết kịp thời; kết quả tiếp thu, giải quyết được công khai. Các vấn đề tư tưởng, dư luận xã hội phát sinh ở cơ sở được phát hiện sớm, xử lý kịp thời, hiệu quả, không để kéo dài, vượt cấp, tích tụ thành vấn đề phức tạp, điểm nóng; phấn đấu 100% kiến nghị, phản ánh của Nhân dân được tiếp nhận và trả lời trong thời hạn quy định.
Công tác tư tưởng tiến hành đồng bộ, hiệu quả trên cả không gian thực và không gian số, ở trong nước và ngoài nước: 100% cấp xã có lực lượng làm công tác tư tưởng, hoạt động thường xuyên tại từng địa bàn dân cư; 100% cấp xã kết nối hệ thống thông tin nguồn; người dân ở mọi địa bàn tiếp cận được thông tin chính thống hai chiều. Mỗi chủ trương, nghị quyết, chính sách lớn đều có phương án truyền thông đồng bộ theo từng nhóm đối tượng, lan toả đồng bộ tới các tầng lớp Nhân dân; thế trận lòng dân được củng cố vững chắc. Tỉ lệ người dân tin tưởng và chủ động sử dụng thông tin từ nguồn chính thống tăng vững chắc hằng năm. Cả nước hình thành mạng lưới 15.000 - 20.000 người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng. Hệ sinh thái truyền thông đối ngoại đa nền tảng, đa ngôn ngữ hoạt động hiệu quả; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tích cực lan toả hình ảnh đất nước, giá trị văn hoá, con người và thành tựu phát triển của đất nước.
Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có đủ phẩm chất, năng lực; hệ thống dữ liệu, công nghệ và hạ tầng được hoàn thiện đồng bộ, hiện đại: 100% cấp xã có cán bộ chuyên trách; 100% cán bộ làm công tác tư tưởng các cấp, thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Công tác 35, người làm nhiệm vụ thông tin ở cơ sở được tập huấn, bồi dưỡng hằng năm; toàn Đảng có 4.000 - 6.000 cán bộ tuyên giáo nòng cốt được đào tạo chuyên sâu. Hệ thống quy định, hướng dẫn, quy trình, tiêu chí nghiệp vụ về công tác tư tưởng được ban hành đồng bộ và đi vào vận hành. Cơ bản hoàn thành hệ sinh thái dữ liệu và hạ tầng phục vụ công tác tư tưởng thống nhất trong toàn Đảng; hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung đi vào vận hành thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; toàn bộ dữ liệu lưu trữ trên hạ tầng số trong nước, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn: Công tác tư tưởng trở thành năng lực nội sinh của Đảng và của cả dân tộc, chủ động định hình nhận thức xã hội, vững vàng trước mọi biến động của môi trường thông tin. Công tác lý luận đi trước, định hướng, dẫn dắt thực tiễn, đủ sức lý giải những vấn đề mới của thời đại và của một xã hội phát triển ở trình độ cao; Việt Nam đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hệ giá trị Việt Nam và bản sắc văn hoá dân tộc trở thành sức mạnh mềm quốc gia, tương xứng vị thế nước phát triển, có thu nhập cao; chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá được giữ vững trong môi trường thông tin toàn cầu.
3. Phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới
Với mục tiêu chung là nhằm phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hoá, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia.
Đến năm 2030, du lịch Việt Nam là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp trực tiếp từ 10 - 12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa đặt trọng tâm vào thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỉ USD. Phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng du lịch Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú du lịch. Toàn ngành tạo ra khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp. Hình thành đồng bộ hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia, nền tảng số du lịch quốc gia.
Đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.
Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong phát triển du lịch. Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược, phát huy và khơi thông nguồn lực phát triển du lịch. Phát triển hạ tầng đồng bộ, hình thành các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh cao. Phát triển thị trường, sản phẩm du lịch chất lượng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam. Phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh. Đổi mới phương thức quản trị du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến du lịch xanh, thông minh, an toàn, bền vững
Nhiệm vụ Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong phát triển du lịch, được cụ thể như sau: Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về vị trí, vai trò của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, là động lực quan trọng trong chuyển đổi, xây dựng mô hình tăng trưởng mới của đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong quảng bá du lịch, văn hoá và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Đổi mới tư duy phát triển du lịch từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên đơn thuần sang chú trọng mô hình phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao gắn với các sản phẩm giàu sáng tạo, trải nghiệm đặc sắc; đổi mới tư duy về quản trị du lịch theo hướng quản trị hệ sinh thái kinh tế dịch vụ tổng hợp, đồng bộ trong chuỗi giá trị.
Xác định rõ trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu trong phát triển du lịch; lồng ghép mục tiêu du lịch vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội; gắn phát triển du lịch với phát triển văn hoá, bảo đảm môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tập trung phát triển các ngành, lĩnh vực tạo tiền đề cho du lịch phát triển, đồng thời du lịch là động lực lan toả phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan. Tăng cường điều phối, kết nối vùng, liên vùng; phát huy các thiết chế văn hoá, thể thao, các giá trị thương hiệu quốc gia thành nguồn lực cho phát triển du lịch.
Tuyên truyền, vận động, duy trì các phong trào, chương trình hành động nâng cao văn hoá du lịch; phát huy vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện, an toàn, sạch đẹp.
4. Tăng cường hợp tác quốc tế về người cao tuổi giai đoạn 2026 - 2031
Nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong tăng cường hợp tác quốc tế về người cao tuổi; tận dụng hiệu quả nguồn lực, tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và mô hình quốc tế để nâng cao năng lực nội tại, hoàn thiện chính sách, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ trong bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Góp phần thích ứng hiệu quả với già hóa dân số, giảm áp lực an sinh xã hội và sức ép thiếu hụt lao động; từng bước hình thành nền tảng phát triển kinh tế bạc phù hợp với điều kiện Việt Nam; khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và mô hình kinh doanh thân thiện với người cao tuổi, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu về kinh tế bạc.
Góp phần củng cố, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, nâng cao mức độ tham gia, đóng góp, vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các tiến trình khu vực và quốc tế liên quan đến người cao tuổi. Thúc đẩy triển khai ít nhất 05 chương trình, dự án hoặc mô hình hợp tác quốc tế về người cao tuổi có khả năng thí điểm, đánh giá và nhân rộng trong các lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng phục vụ thích ứng với già hóa dân số, nhất là y tế, chăm sóc dài hạn, chăm sóc tại cộng đồng, an sinh xã hội; lao động, kỹ năng trong xã hội già hoá; chuyển đổi số, dữ liệu, công nghệ hỗ trợ. Góp phần hiện thực hoá mục tiêu 100% người cao tuổi được bao phủ bảo hiểm y tế; từng bước mở rộng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn và an sinh tuổi già phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Phấn đấu 100% các bệnh viện tuyến trung ương và ít nhất 70% bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh về lão khoa/chuyên khoa lão khoa được tiếp cận chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hoặc mô hình chăm sóc người cao tuổi. ít nhất 20% các Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau được lựa chọn tham gia các chương trình, dự án hoặc mô hình hợp tác quốc tế được tiếp cận các nguồn hỗ trợ kỹ thuật, tài chính hoặc mô hình sinh kế từ các đối tác quốc tế. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng và thử nghiệm bộ tiêu chí, tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, dịch vụ kinh tế bạc và hạ tầng thân thiện với người cao tuổi; thúc đẩy ít nhất 03 hoạt động kết nối quốc tế về đầu tư, doanh nghiệp, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc hợp tác công - tư trong lĩnh vực kinh tế bạc. Nghiên cứu lộ trình phấn đấu đưa kinh tế bạc đóng góp tương xứng với quy mô, trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Đề án Tăng cường hợp tác quốc tế về người cao tuổi giai đoạn 2026 - 2031 được phê duyệt bởi Quyết định số 1702/QĐ-TTg, ngày 03/9/2026 đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và đổi mới tư duy về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực người cao tuổi: Tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, tư duy và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; quán triệt sâu sắc yêu cầu thích ứng với già hóa dân số, phát triển kinh tế bạc và mở rộng hợp tác quốc tế trong tình hình mới, gắn với mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững; chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu tiếp nhận hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm sang chủ động đề xuất sáng kiến, mô hình hợp tác và tranh thủ nguồn lực quốc tế có chọn lọc, hiệu quả.
Hoàn thiện thể chế, cơ chế phối hợp, quản lý nguồn lực và chủ động tham gia xây dựng khuôn khổ pháp lý quốc tế về người cao tuổi: Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế điều phối, quản lý nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về người cao tuổi theo hướng đồng bộ, thông suốt; gắn hoàn thiện thể chế trong nước với chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ pháp lý, thể chế, chuẩn mực quốc tế về quyền của người cao tuổi, nhất là tiến trình xây dựng Công ước quốc tế về quyền của người cao tuổi tại Liên hợp quốc, đồng thời tăng cường phối hợp trong ASEAN, APEC và các cơ chế khu vực phù hợp.
Phát triển hợp tác về già hóa khỏe mạnh, chăm sóc dài hạn, an sinh tuổi già và hỗ trợ người chăm sóc: Tranh thủ kinh nghiệm quốc tế, hỗ trợ kỹ thuật, mô hình, nguồn lực và đối tác như WHO, UNFPA, World Bank, ADB, Nhật Bản, các nước châu Âu... nhằm nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, bảo đảm an sinh tuổi già và hỗ trợ gia đình, người chăm sóc; coi đây là trọng tâm ưu tiên trong hợp tác quốc tế về người cao tuổi.
Thúc đẩy hợp tác về lao động - kỹ năng, học tập suốt đời trong bối cảnh già hoá dân số: Tăng cường hợp tác quốc tế với ILO, ASEAN, APEC, UNESCO và các đối tác có thế mạnh nhằm thích ứng với xu hướng thu hẹp lực lượng lao động do già hoá dân số; phát triển kỹ năng, việc làm phù hợp, việc làm linh hoạt, trong đó có đào tạo và đưa lao động chăm sóc người cao tuổi đi làm việc ở nước ngoài tại các thị trường có nhu cầu; và cơ chế bảo vệ quyền lợi lao động phù hợp cho lao động trung niên, lao động cao tuổi.
Xây dựng nền tảng hợp tác quốc tế về dữ liệu, tiêu chuẩn, chuyển đổi số, hướng tới môi trường sống thân thiện với người cao tuổi: Đẩy mạnh hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... và các tổ chức chuyên môn, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ về dữ liệu, nghiên cứu chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật về giải pháp số và môi trường sống thân thiện với người cao tuổi, chuyển đổi số trên cơ sở bảo đảm an toàn dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị dữ liệu và phù hợp với cam kết quốc tế có liên quan; tạo nền tảng phục vụ hoạch định chính sách, nâng cao năng lực quản trị và hỗ trợ người cao tuổi sống độc lập, an toàn, thuận tiện trong một môi trường sống thân thiện.
Kết nối đối tác, thu hút nguồn lực quốc tế và thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế bạc: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các thiết chế tài chính, quỹ đầu tư, hiệp hội doanh nghiệp và doanh nghiệp công nghệ tại các nước nhằm huy động tri thức, công nghệ, đầu tư, mô hình quản trị, hợp tác công - tư và sự tham gia của doanh nghiệp nhằm từng bước hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ thân thiện với người cao tuổi, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Phát huy vai trò của người cao tuổi trong hợp tác quốc tế và đối ngoại nhân dân: Khuyến khích và tạo điều kiện để người cao tuổi, Hội Người cao tuổi Việt Nam và các tổ chức liên quan tham gia thực chất vào các hoạt động hợp tác quốc tế, đối ngoại nhân dân, tham vấn chính sách, chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và kết nối cộng đồng; qua đó nâng cao tiếng nói, vị thế và vai trò chủ thể của người cao tuổi trong quá trình xây dựng, triển khai và đánh giá các chính sách, chương trình hợp tác quốc tế về người cao tuổi.
Huy động, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn lực và thông tin, tuyên truyền đối ngoại: Bảo đảm các điều kiện thực hiện Đề án về nguồn nhân lực, tài chính và đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại; đồng thời tăng cường huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp trong và ngoài nước để triển khai các nhiệm vụ của Đề án một cách đồng bộ, thực chất và bền vững.
5. Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch chiến lược Kết nối ASEAN tại Việt Nam
Ngày 14/9/2026 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Kế hoạch chiến lược Kết nối ASEAN tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 và giai đoạn 2031 - 2035 (Quyết định số 1775/QĐ-TTg).
Quyết định nêu rõ, việc xây dựng một Chương trình hành động cấp quốc gia để triển khai Kế hoạch chiến lược Kết nối ASEAN tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, 2031- 2035 là cần thiết để tạo căn cứ phối hợp giữa các Bộ, ngành, đơn vị liên quan triển khai hiệu quả hợp tác kết nối ASEAN, đồng thời có cơ sở vững chắc từ các văn kiện khu vực và quốc gia (Chương trình).
Chương trình lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm
Chương trình hành động được xây dựng và triển khai theo chủ trương chung của Đề án tổng thể định hướng xây dựng Chương trình hành động triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 và các Kế hoạch chiến lược về Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Kết nối. Chương trình hành động cũng bám sát các quan điểm chỉ đạo cốt lõi, thể hiện tầm nhìn và cam kết của Việt Nam với một Cộng đồng ASEAN vững mạnh, thịnh vượng, với các quan điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, Chương trình hành động được xây dựng nhằm quán triệt đầy đủ các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế, bám sát các mục tiêu của Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 cùng các Kế hoạch chiến lược liên quan; từ đó cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Thứ hai, Chương trình lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng cơ hội thị trường, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa hội nhập kinh tế với phát triển bền vững, bao trùm và nâng cao an sinh xã hội.
Thứ ba, Chương trình hành động đề cao cách tiếp cận toàn diện, liên ngành và liên trụ cột, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả thực thi, cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách trong quá trình triển khai giữa cấp trung ương và cấp địa phương. Do đó, việc triển khai tại Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các Bộ, ngành, địa phương và các bên liên quan, đảm bảo tính hiệu quả và tránh chồng chéo.
Tăng cường liên kết vật chất, thể chế và giao lưu nhân dân trong khu vực
Về mục tiêu chung của chương trình hành động: Kế hoạch Chiến lược Kết nối ASEAN được dự kiến kết nối ASEAN bằng cách tăng cường liên kết vật chất, thể chế và giao lưu nhân dân trong khu vực, đồng thời hỗ trợ thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, thông qua sáu lĩnh vực chiến lược. Chương trình hành động sẽ hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Kế hoạch chiến lược Kết nối ASEAN giai đoạn 2026 -2030 và giai đoạn 2031 - 2035, và tầm nhìn 2045 của ASEAN.
Về mục tiêu cụ thể, sáu lĩnh vực chiến lược (Cơ sở hạ tầng bền vững; Phát triển đô thị thông minh và bền vững; Đổi mới sáng tạo số; Logistics và Chuỗi cung ứng liền mạch; Hợp tác và Quy định xuất sắc; Kết nối giữa con người với con người) được triển khai đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả phối hợp giữa các Trụ cột Cộng đồng ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển. Cấu trúc gồm 06 Lĩnh vực (tương ứng với 06 Mục tiêu chiến lược) và 49 Biện pháp chiến lược thuộc Kế hoạch Chiến lược Kết nối ASEAN. Các biện pháp này được cụ thể hóa thành các Hoạt động trong Kế hoạch công tác, quy định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp và mốc thời gian thực hiện. Định kỳ hoặc theo yêu cầu phát sinh, Ủy ban Điều phối Kết nối ASEAN chủ trì, phối hợp với Ban Thư ký ASEAN và các bên liên quan rà soát, điều chỉnh Kế hoạch công tác phù hợp với thực tiễn. Mục tiêu cụ thể bao gồm:
Cụ thể hóa mục tiêu và tổ chức triển khai Kế hoạch Kết nối ASEAN: Chương trình tập trung cụ thể hóa và triển khai đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các mục tiêu, biện pháp chiến lược của Kế hoạch Chiến lược Kết nối ASEAN 2026 - 2035 (ACSP) phù hợp với điều kiện thực tiễn, pháp luật và lợi ích quốc gia của Việt Nam. Đồng thời, xác định rõ nhiệm vụ, lộ trình thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng Bộ, ngành nhằm bảo đảm sự tham gia chủ động, đóng góp thực chất vào mạng lưới kết nối khu vực.
Hoàn thiện thể chế và bảo đảm hài hòa pháp luật: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực trọng yếu như cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị, đầu tư, hải quan, logistics, thương mại điện tử, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đô thị thông minh. Qua đó, bảo đảm tính đồng bộ, hài hòa giữa quy định trong nước với các cam kết nội khối ASEAN và thông lệ quốc tế.
Tăng cường điều phối liên ngành và nâng cao năng lực hội nhập: Tập trung nâng cao hiệu quả điều phối liên ngành, củng cố năng lực cơ quan đầu mối và hoàn thiện cơ chế giám sát thực thi cam kết ACSP gắn kết chặt chẽ với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Song song đó, đẩy mạnh nâng cao nhận thức, năng lực hội nhập, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo cho các bên liên quan, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động tối ưu hóa cơ hội từ thị trường ASEAN và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực.
Khẳng định vai trò và vị thế chiến lược của Việt Nam: Tiếp tục nâng cao vai trò, tiếng nói và vị thế của Việt Nam thông qua việc đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào các sáng kiến kinh tế chung. Từ đó, chủ động cùng các quốc gia thành viên hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, góp phần củng cố vai trò trung tâm của ASEAN và bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực.
Phạm vi và thời gian thực hiện
Chương trình hành động được triển khai trên phạm vi cả nước, áp dụng đối với các Bộ, ngành; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ quan đầu mối tham gia hợp tác trong khuôn khổ Kết nối ASEAN.
6. Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm
Ngày 17/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, quy định nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Quy định áp dụng đối với tổ chức đảng (gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể, kết thúc hoạt động, thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất) và đảng viên (gồm cả đảng viên bị tuyên bố mất tích, đảng viên đã qua đời nhưng có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đảng viên ở nước ngoài).
Trường hợp tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nội dung chưa nêu trong Quy định này thì căn cứ vào Điều lệ và chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ và quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để xử lý kỷ luật cho phù hợp với Quy định này.
Quy định nêu rõ, tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời. Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh. Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.
Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
Theo Quy định, tổ chức đảng bị kỷ luật, tổ chức đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó.
Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.
Đảng viên trong tổ chức đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định. Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo. Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức. Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Đối với tổ chức đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ; đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.
Quy định số 212-QĐ/TW xác định cụ thể các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng; các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên, trong đó có các lĩnh vực về công tác tổ chức, cán bộ và công tác đảng viên; về bầu cử; quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; về kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đầu tư, xây dựng cơ bản; kinh tế, tài chính, ngân hàng; tài nguyên, đất đai, nhà ở; giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;…
Đối với tổ chức đảng, một số hành vi vi phạm gồm: không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc xử lý hoặc không kịp thời xử lý tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực này trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo hoặc thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo để tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý vi phạm hoặc không chấp hành chỉ đạo của cấp có thẩm quyền;…
Đối với đảng viên, các hành vi vi phạm như: cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định …
7. Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, sát sao, gắn với trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo các mục tiêu đề ra tại Kết luận số 18-KL/TW. Với “chiến dịch” triển khai trong hơn 01 tháng (từ ngày 15/42026 đến ngày 19/5/2026), Chính phủ ban hành 11 Nghị quyết về phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; đồng thời, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã chủ động ban hành 21 thông tư để thực hiện phân cấp, cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Nhằm đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, ngày 31/8/2026, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 258/NQ-CP, trong đó nêu rõ mục tiêu phấn đấu như sau:
Mục tiêu tổng quát là đổi mới thực chất, toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính, trọng tâm là cắt giảm, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, chuyển đổi thành công phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro; tăng cường kiểm soát thực thi dựa trên dữ liệu theo thời gian thực và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ nhằm nâng cao chất lượng thể chế, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
Tiếp tục tập trung thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2026 - 2030 đạt mục tiêu cụ thể như sau: Bảo đảm không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không cần thiết so với kết quả phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại 11 Nghị quyết của Chính phủ thực hiện Kết luận số 18-KL/TW.
Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; 100% kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa và tái sử dụng dữ liệu, đồng thời đảm bảo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có yêu cầu khác.
Đến năm 2030, 100% dịch vụ công thiết yếu được thực hiện tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi toàn quốc tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công; 100% dịch vụ công được cung cấp chủ động khi đã đảm bảo điều kiện về dữ liệu và hạ tầng số.
Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước đủ điều kiện được thực hiện trên môi trường điện tử. 100% chế độ báo cáo của doanh nghiệp đủ điều kiện được thực hiện điện tử; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính nhà nước.
Công tác chỉ đạo, điều hành, đánh giá cải cách thủ tục hành chính được thực hiện dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, gắn với đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức; đến năm 2030, Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) trong giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 95%; 100% phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính được tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả đúng thời hạn quy định.
Đổi mới toàn diện cơ chế rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng dựa trên dữ liệu và quản lý theo vòng đời sự kiện của người dân, doanh nghiệp. Số hóa, triển khai thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính hoàn toàn trên môi trường số; bảo đảm nguyên tắc “người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần”, tăng cường tái sử dụng dữ liệu và quản trị dựa trên dữ liệu, theo thời gian thực. Vận hành thông suốt, hiệu quả Cổng Dịch vụ công quốc gia trở thành “một cửa số” của quốc gia.
8. Một số mục tiêu của Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt bởi Quyết định số 1671/QĐ-TTg, ngày 28/8/2026 nêu rõ mục tiêu tổng quát là, đến năm 2030, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong khu vực ASEAN và châu Á; hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI. AI trở thành năng lực cốt lõi, được tích hợp sâu, toàn diện vào hoạt động quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội; góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, mô hình tăng trưởng mới.
Các mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, Tác động quốc gia: Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI. Quy mô nền kinh tế AI tương đương khoảng 6% GDP. Năng suất lao động trong các ngành, lĩnh vực ứng dụng AI tăng tối thiểu 10 - 15%. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và giải pháp tích hợp AI đạt khoảng 05 tỷ USD.
Kết quả: 60% doanh nghiệp có ứng dụng AI ghi nhận tăng năng suất, giảm chi phí, tăng doanh thu. 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng nền tảng AI công vụ hàng tuần. 60% quyết định chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với dịch vụ công được hỗ trợ bởi AI tăng tối thiểu 30% so với năm 2026. Số lượng công bố khoa học quốc tế về AI tăng trung bình 10%/năm. Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế liên quan đến AI của người Việt Nam tăng trung bình 16 - 18%/năm. Tỷ lệ khai thác thương mại các sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ đạt 8 - 10%. Có ít nhất 100 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về AI đạt giá trị doanh nghiệp trên 10 triệu USD.
Sản phẩm đầu ra:100% bộ, ngành, địa phương ban hành kế hoạch triển khai Chiến lược. 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI. 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI. 100% trung tâm điều hành thông minh cấp tỉnh được nâng cấp theo hướng tích hợp AI phục vụ phân tích, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định. Hình thành 01 nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia. Hình thành 01 nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt. Phát triển tối thiểu 05 nền tảng AI dùng chung quốc gia. Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Phát triển tối thiểu 08 mô hình AI tiếng Việt gồm: Tối thiểu 02 mô hình nhỏ, dưới 07 tỷ tham số, phù hợp triển khai trên thiết bị biên, máy tính cá nhân và các nhiệm vụ chuyên biệt; tối thiểu 02 mô hình vừa, từ 07 tỷ đến dưới 70 tỷ tham số, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và các bài toán chuyên ngành; tối thiểu 02 mô hình lớn, từ 70 tỷ đến dưới 300 tỷ tham số, có năng lực tổng quát cao, phục vụ các bài toán quy mô lớn; tối thiểu 02 mô hình rất lớn, từ 300 tỷ tham số trở lên, định hướng phục vụ các bài toán nền tảng cấp quốc gia và tham gia cạnh tranh ở quy mô khu vực, quốc tế.
Đào tạo trình độ cao, chuyên sâu cho tối thiểu 10.000 người về AI, bao gồm nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia ứng dụng có năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, triển khai và dẫn dắt các hệ thống AI quy mô lớn. Đào tạo, phát triển tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng tối thiểu 500.000 người lao động có khả năng triển khai, vận hành và ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực. Tối thiểu 10 triệu lao động đã qua đào tạo được trang bị kỹ năng sử dụng AI cơ bản. Tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã được hỗ trợ sản phẩm, giải pháp tích hợp AI.
Đầu vào: Tổng đầu tư cho AI đạt 1 - 1,5% GDP hằng năm, bao gồm nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp trong và ngoài nước, quỹ đầu tư, hợp tác công - tư, nguồn vốn xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước cho AI đạt khoảng 0,6% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Tổng năng lực hạ tầng tính toán AI do Nhà nước, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam đạt khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc khoảng 1.100 EFLOPS FP8, với tổng công suất điện khoảng 500MW. Công suất điện cung cấp cho các trung tâm dữ liệu phục vụ AI tăng ít nhất 03 lần so với năm 2025. 100% cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu và dữ liệu dùng chung thuộc danh mục được phê duyệt hoàn thành việc số hóa, chuẩn hóa, làm sạch, sẵn sàng khai thác cho AI. 100% các cơ quan nhà nước cấp bộ, cấp tỉnh mở và cung cấp dữ liệu mở bảo đảm chất lượng.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo giá trị quốc gia; đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Việt Nam hoàn thành bước chuyển căn bản các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và hệ thống hạ tầng quan trọng được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI. Việt Nam hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI, doanh nghiệp AI-native có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế và trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI quan trọng của khu vực và toàn cầu.
9. Phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia giai đoạn mới
Với mục tiêu tổng quát là tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng; bảo đảm yêu cầu về tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; duy trì môi trường hoà bình, ổn định.
Đến năm 2045, các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao, kết nối thông suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng; xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; quản trị xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, tự cường, vững mạnh; người dân được hưởng thụ các dịch vụ xã hội chất lượng cao, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, nêu rõ các nhiệm vụ giải pháp trọng tâm, gồm: Tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng. Đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành và phát triển các động lực kinh tế mới của vùng. Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, liên vùng. Phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển văn hoá, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện. Bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
Nhiệm vụ Tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng, được cụ thể như sau: Tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội của vùng theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới; chuyển từ việc tổ chức lại không gian phát triển theo địa giới hành chính tỉnh, thành phố sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành, tiểu vùng và địa phương trong vùng theo chức năng đã được xác định trong quy hoạch. Điều chỉnh quy hoạch vùng đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành gắn với đổi mới mô hình phát triển đất nước, bảo đảm tầm nhìn dài hạn, liên ngành, liên vùng và khả năng thích ứng với những thay đổi về công nghệ, thị trường, dân số, khí hậu. Ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, nội dung của quy hoạch vùng; quan tâm đầu tư cho các cực tăng trưởng để làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho cả vùng.
Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế, kết nối hiệu quả các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia nhằm khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sắp xếp các đơn vị hành chính. Bố trí, sắp xếp không gian phát triển vùng, trong đó có các tiểu vùng và địa phương phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của các cực tăng trưởng. Đầu tư phát triển các hành lang kinh tế để tối ưu hoá không gian phát triển, tạo thành các trục kết nối giao thông và không gian kinh tế xuyên suốt, kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển quan trọng. Tiếp tục đầu tư để hình thành các vùng động lực quốc gia với định hướng và cơ cấu kinh tế phù hợp để dẫn dắt phát triển vùng và các địa phương. Tăng cường liên kết các địa phương, vùng trong khai thác không gian biển để nước ta trở thành quốc gia biển mạnh. Chú trọng việc kết nối các hành lang kinh tế trong nước với các hành lang kinh tế của khu vực và quốc tế.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai 07 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2026 - 2027
Ngày 03/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2623/QĐ-BGDĐT về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2026 - 2027.
Quyết định nêu rõ, năm học 2026 - 2027 là năm học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Ngành Giáo dục xác định chủ đề năm học 2026 - 2027 là: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”.
Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản trị phát triển giáo dục
Năm học 2026 - 2027, toàn ngành Giáo dục tập trung quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cụ thể hóa các chủ trương, định hướng thành nhiệm vụ, chỉ tiêu, sản phẩm, tiến độ và trách nhiệm thực hiện trong năm học 2026 - 2021.
Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản trị phát triển giáo dục. Chuyển mạnh từ trọng tâm xây dựng, hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện hiệu quả, đưa chính sách vào cuộc sống, tạo chuyển biến thực chất, rõ nét từ bên trong ngành Giáo dục, từ quản trị nhà trường, đội ngũ nhà giáo đến nội dung, phương pháp dạy và học, thi, kiểm tra đánh giá. Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực; lấy kết quả thực tế làm thước đo, trọng tâm là sự tiến bộ của người học, chất lượng và điều kiện làm việc của đội ngũ nhà giáo, hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực.
Hoàn thiện xây dựng và đưa vào triển khai trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia Bộ chỉ số phát triển giáo dục và đào tạo quốc gia, bộ chỉ số phát triển giáo dục địa phương và bộ chỉ số phát triển giáo dục đại học. Cụ thể hóa các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thành hệ thống chỉ số theo dõi hằng năm, mốc trung gian đến năm 2030, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Triển khai có hiệu quả các Đề án, Chương trình, Quy hoạch,
Chiến lược và Chương trình mục tiêu quốc gia đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tăng cường kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm tại các lĩnh vực, địa phương triển khai chậm, còn nhiều khó khăn, vướng mắc; chú trọng đánh giá thực chất kết quả đầu ra, hiệu quả và tác động của việc triển khai thực hiện.
Giải quyết các điểm nghẽn
Năm học mới, tập trung giải quyết các điểm nghẽn về đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất; bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên, không để học sinh vì hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường.
Tiếp tục ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời xử lý tình trạng quá tải trường, lớp tại đô thị, khu công nghiệp và địa bàn tăng dân số cơ học nhanh, quan tâm người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục có chất lượng.
Rà soát, điều động giáo viên giữa các địa bàn, khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ; sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục chuyển sang làm công tác giảng dạy; hoàn thiện cơ chế hợp đồng, thỉnh giảng, dạy thêm giờ và chính sách thu hút đối với các môn học, ngành nghề, địa bàn khó tuyển.
Ưu tiên nguồn lực ngân sách và đầu tư công cho nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trường nội trú biên giới, hạ tầng số, phòng thí nghiệm và đào tạo nhân lực chiến lược; rà soát, sắp xếp danh mục đầu tư công trung hạn theo mức độ cấp thiết, hiệu quả và tác động.
Thực hiện tốt mô hình trường phổ thông liên cấp nội trú biên giới; đánh giá, hoàn thiện và từng bước nhân rộng mô hình tại các địa bàn khó khăn.
Tinh giản nội dung, nâng cao chất lượng giờ học chính khóa
Tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, kỷ cương và an toàn trường học. Tiếp tục tinh giản nội dung, nâng cao chất lượng giờ học chính khóa, tổ chức dạy học hai buổi/ngày phù hợp điều kiện thực tế; tăng cường thực hành, trải nghiệm, STEM, ngoại ngữ, năng lực số, ứng dụng Al có chọn lọc, nghệ thuật và giáo dục thể chất; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Cắt giảm cuộc thi, hồ sơ, sổ sách, hội họp không cần thiết để giáo viên tập trung cho chuyên môn.
Sửa đổi đồng bộ chương trình giáo dục, sách giáo khoa đáp ứng các yêu cầu mới; tăng cường giáo dục lịch sử, văn hóa dân tộc, truyền thống yêu nước, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, sức khỏe và trách nhiệm xã hội cho học sinh, sinh viên; xây dựng môi trường giáo dục kỷ cương, nề nếp, lành mạnh, "thầy ra thầy, trò ra trò". Chủ động phòng, chống bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, tệ nạn xã hội; tăng cường tư vấn tâm lý, y tế trường học; bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ bạo lực, xâm hại trên môi trường mạng; nghiên cứu các giải pháp bảo đảm môi trường số an toàn cho trẻ vị thành niên. Siết chặt kỷ cương, bảo đảm an ninh, an toàn trường học và an toàn thực phẩm; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ sở giáo dục, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương trong bảo đảm an toàn cho người học. Rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy trình kiểm soát an toàn thực phẩm, bảo đảm chất lượng, dinh dưỡng và an toàn bữa ăn học đường.
Đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng thực chất, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của người học; hoàn thiện mô hình thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng gọn nhẹ, công bằng, minh bạch, giảm áp lực và chi phí xã hội, đồng thời bảo đảm nghiêm túc, an toàn, phòng, chống gian lận, tiêu cực. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích; tăng cường kỷ cương trong dạy học, thi, tuyển sinh và quản lý dạy thêm, học thêm.
Gắn kết chặt chẽ đào tạo với thị trường lao động
Rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng; tập trung đầu tư các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khả năng dẫn dắt và trung tâm đào tạo kỹ năng nghề quốc gia, vùng; đưa doanh nghiệp tham gia thực chất vào xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng; tăng cường dự báo cung - cầu, đặt hàng đào tạo và công khai kết quả việc làm sau tốt nghiệp.
Triển khai nền tảng quản trị nhân lực, kỹ năng và việc làm quốc gia, gắn kết chặt chẽ đào tạo với thị trường lao động.
Tăng cường công tác hướng nghiệp, phân luồng, đa dạng hóa phương thức tuyển sinh và đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tập trung phát triển nhân lực cho các ngành STEM, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn, ngành nghề mới và các lĩnh vực có nhu cầu nhân lực cao; tăng cường đào tạo, đào tạo lại tại địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo chương trình chất lượng cao theo quy định tiêu chí xác định chương trình chất lượng cao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Triển khai có hiệu quả mô hình trung học nghề, mô hình đào tạo kép, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp; bảo đảm kết hợp kiến thức chương trình trung học phổ thông với kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp. Từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo lộ trình.
Đầu tư phát triển 3 - 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế
Hiện đại hóa giáo dục đại học, phát triển nhân lực trình độ cao. Kiểm soát tăng quy mô gắn điều kiện bảo đảm chất lượng; ưu tiên STEM và công nghệ chiến lược nhưng gắn với chất lượng đầu vào, đội ngũ, phòng thí nghiệm và việc làm. Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển đào tạo sau đại học, đội ngũ tiến sĩ và các nhóm nghiên cứu mạnh; chuyên đánh giá nghiên cứu từ số lượng công bố sang sáng chế, sản phẩm, chuyển giao và tác động thực tế. Phát triển môi trường sử dụng tiếng Anh hiệu quả trong giảng dạy các học phần, mô đun, tín chỉ trong chương trình đào tạo; trong đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên. Phát triển giáo dục đại học thành trụ cột dẫn dắt quốc gia trong hệ sinh thái tiếng Anh với năng lực hội nhập sâu rộng, chuyển giao tri thức và đổi mới sáng tạo bằng tiếng Anh.
Đẩy nhanh sắp xếp tái cấu trúc hệ thống cơ sở giáo dục đại học công lập và đầu tư phát triển 3 đến 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế. Nghiên cứu phương án đầu tư phát triển một số hệ sinh thái, khu đô thị giáo dục đại học - khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số vùng động lực, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Chuyển dần từ đầu tư đơn lẻ sang đầu tư theo hệ sinh thái, có phân công sứ mạng và chia sẻ hạ tầng, hình thành các cực tăng trưởng dựa trên tri thức.
Hoàn thiện khung quản lý việc sử dụng AI
Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, lấy dữ liệu làm nền tảng đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng giáo dục.
Hoàn thiện, chuẩn hóa, làm sạch và kết nối các cơ sở dữ liệu giáo dục theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, VNeID và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành có liên quan; xây dựng, vận hành hiệu quả nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia.
Đẩy mạnh sử dụng học bạ số, văn bằng số, dữ liệu thi và tuyển sinh, từng bước thay thế hồ sơ, giấy tờ và báo cáo thủ công; thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng dữ liệu, xác định rõ trách nhiệm cập nhật, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu.
Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giáo dục và đào tạo với các cơ sở dữ liệu về lao động, việc làm, khoa học, công nghệ và các cơ sở dữ liệu quốc gia, phục vụ dự báo, hoạch định chính sách và quản trị giáo dục. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học, kiểm tra, đánh giá và cá thể hóa học tập;
Đồng thời đưa kiến thức, kỹ năng về trí tuệ nhân tạo vào chương trình và hoạt động giáo dục phù hợp với từng cấp học. Hoàn thiện khung quản lý việc sử dụng AI, bảo đảm quyền riêng tư, an toàn, bảo mật dữ liệu, minh bạch và liêm chính học thuật.
Hợp tác chiến lược phải rõ sản phẩm đầu ra và chỉ số đánh giá
Nâng cao hiệu quả hợp tác và hội nhập quốc tế, chuyển trọng tâm từ số lượng thỏa thuận sang sản phẩm và kết quả cụ thể; mỗi hợp tác chiến lược phải xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và chỉ số đánh giá.
Ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực STEM, công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu mới; hoàn thiện cơ chế thu hút đại học uy tín, giảng viên, chuyên gia, nhà khoa học quốc tế; tăng cường sự hiện diện của giáo dục Việt Nam trong các mạng lưới khu vực và quốc tế.
II. HOẠT ĐỘNG TUYÊN GIÁO NỔI BẬT
1. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ
Ngày 14/9, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương tổ chức Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo quý III/2026. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Cuộc họp.
Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, thành viên Ban Chỉ đạo và đại diện một số ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.
Cuộc họp nhằm đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong quý III; đồng thời xác định các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong quý IV.
Tại Cuộc họp, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đánh giá, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong quý III và 9 tháng năm 2026 được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nền nếp, hiệu quả.
Trong quý III, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 các cấp đã tích cực triển khai nhiều nhiệm vụ, lãnh đạo, chỉ đạo xử lý nhiều vụ việc phức tạp, nhạy cảm và những vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ.
Trong quý IV, toàn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục triển khai quyết liệt các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra, nhất là các mục tiêu về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh cho Nhân dân. Cùng với đó, tình hình thế giới, khu vực và các vấn đề thực tiễn đã và đang tác động trực tiếp, tạo ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trên cơ sở đó, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là Ban Chỉ đạo 35 các cấp tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, nắm chắc tình hình trên thực địa và không gian mạng, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.
2. Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương làm việc tại Thái Nguyên
Ngày 9/9, Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương làm việc với Thường trực Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo 35 Tỉnh ủy Thái Nguyên về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Đồng chí Ngô Đông Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, Trưởng Đoàn kiểm tra và đồng chí Trịnh Xuân Trường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, đồng chủ trì buổi làm việc.
Qua làm việc trực tiếp với Ban Công tác 35 cấp xã và qua công tác kiểm tra, Đoàn kiểm tra đánh giá thời gian qua, Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong tỉnh đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy, chủ động triển khai nhiệm vụ, đạt nhiều kết quả tích cực.
Việc học tập, quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kết luận số 89-KL/TW được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đồng bộ. Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội được duy trì thường xuyên; việc theo dõi, tổng hợp, phân tích thông tin trên không gian mạng được tăng cường, góp phần kịp thời phát hiện các vấn đề phức tạp, nổi cộm.
Công tác tuyên truyền, định hướng, lan tỏa thông tin tích cực tiếp tục được đổi mới với nhiều hình thức phong phú; hoạt động đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai sự thật được triển khai chủ động, có trọng tâm, trọng điểm. Cơ chế phối hợp giữa các lực lượng từng bước chặt chẽ, nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc được phát hiện, xử lý, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung đánh giá kết quả, chỉ rõ hạn chế, khó khăn và đề xuất giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp, nhất là năng lực dự báo, khả năng nhận diện, xử lý thông tin và hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng trong tình hình mới.
3. Hội thảo khoa học “Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung để trở thành người có ích cho xã hội”
Ngày 9/9, tại Hà Nội, Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Trường Đại học Mở Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học “Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung để trở thành người có ích cho xã hội”.
Hội thảo nhằm quán triệt quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; triển khai các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị; đồng thời bám sát tinh thần bài viết “Học tập suốt đời” ngày 2/3/2025 của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Đây cũng là diễn đàn trao đổi, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các mô hình, giải pháp thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc học, tự học và học tập không ngừng. Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai của dân tộc; đồng thời chú trọng xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội để mọi người dân được học tập thường xuyên, học tập suốt đời.
Trong bối cảnh tri thức, khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, học tập suốt đời ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết đối với mỗi cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Tinh thần xuyên suốt là học tập không chỉ để nâng cao tri thức, mà phải góp phần hình thành con người có bản lĩnh, năng lực hành động, tinh thần trách nhiệm, khát vọng cống hiến; “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung”.
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục đặt ra yêu cầu phát huy truyền thống hiếu học, xây dựng xã hội học tập; khơi dậy phong trào học tập, tự học, học tập không ngừng, học tập suốt đời vì sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước; xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận giải pháp để việc học trở thành nhu cầu tự thân và nét đẹp văn hóa của mỗi người; mở rộng cơ hội học tập cho các nhóm đối tượng; phát huy hiệu quả công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các phương thức giáo dục mở; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cơ sở giáo dục, gia đình, cộng đồng và người dân trong xây dựng xã hội học tập.
Hội thảo nhận được 85 bài tham luận, trong đó 66 bài được lựa chọn đưa vào kỷ yếu. Các tham luận tiếp cận vấn đề học tập suốt đời từ nhiều góc độ, tập trung làm rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về tự học, học tập suốt đời; mối quan hệ giữa học tập suốt đời với xây dựng đội ngũ cán bộ, nguồn nhân lực có năng lực thực thi; vai trò của các trường đại học trong hệ sinh thái học tập suốt đời; việc xây dựng nền tảng học tập từ gia đình, nhà trường và xã hội, thúc đẩy xây dựng công dân học tập, xã hội học tập từ cộng đồng.
Một trong những nội dung được quan tâm là đổi mới vai trò của trường đại học trong xã hội học tập. Theo đó, trường đại học không chỉ thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao mà cần trở thành một chủ thể quan trọng của hệ sinh thái học tập suốt đời, mở rộng cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho nhiều nhóm đối tượng trong xã hội.
Giáo dục đại học cần từng bước chuyển từ tư duy “đào tạo một lần cho một nghề” sang đồng hành với người học trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp và cá nhân; đa dạng hóa các chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và các hình thức học tập linh hoạt. Cùng với đó, phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong hình thành thói quen đọc, năng lực tự học, chủ động tìm kiếm tri thức và ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Các ý kiến tại Hội thảo cũng nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số trong mở rộng không gian và cơ hội học tập. Sự phát triển của tài nguyên giáo dục mở, các khóa học trực tuyến, nền tảng quản lý học tập và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những phương thức mới để người dân tiếp cận tri thức và học tập thường xuyên, liên tục.
4. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị trong Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương
Ngày 14/9, tại Hà Nội, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp tại điểm cầu chính trụ sở Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, kết hợp trực tuyến đến 125 điểm cầu tại các đảng ủy trực thuộc với sự tham dự của hơn 14.300 cán bộ, đảng viên.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe đồng chí Trần Thanh Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương quán triệt Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới và Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới".
Theo đồng chí Trần Thanh Lâm, với Nghị quyết số 25-NQ/TW, lần đầu tiên công tác tư tưởng được xác lập ở một tầm chiến lược tổng thể, dài hạn bằng một nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị. Điều đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tầm nhìn xa của Đảng trong bối cảnh mới. Lần này, Bộ Chính trị xác định, trong giai đoạn phát triển mới, công tác tư tưởng lấy việc đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh để làm nội dung cốt lõi và xuyên suốt.
Công tác tư tưởng được gắn với toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách. Mỗi chủ trương, chính sách lớn phải có đánh giá tác động về tư tưởng và phương án tuyên truyền, giải thích, đối thoại. Đổi mới phương thức nắm, phân tích, dự báo sớm về tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời chuyển kết quả dự báo thành quyết định lãnh đạo, chỉ đạo và đẩy mạnh thực hiện. Chuyển trọng tâm công tác tư tưởng về cơ sở, kết hợp không gian thực với không gian số; chủ động nắm, định hướng, xử lý kịp thời tư tưởng, vấn đề tư tưởng ngay tại nơi phát sinh, không để hình thành điểm nóng. Đổi mới căn bản hệ thống thông tin cơ sở, bảo đảm nguyên tắc một vụ việc, một đầu mối phát ngôn, một bộ thông điệp thống nhất trên cả không gian thực và không gian số.
Về Chỉ thị số 07-CT/TW, đồng chí Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của việc lần đầu tiên bổ sung thành tố "phương pháp" vào nội dung học tập và làm theo Bác, từ đó hình thành bốn thành tố trong học và thực hành theo Bác. Bốn thành tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, tư tưởng là kim chỉ nam, định hướng cho đạo đức, phương pháp và phong cách; đạo đức là gốc rễ, là nền tảng tinh thần vững chắc để giữ vững định hướng tư tưởng; phương pháp là cách thức, là công cụ khoa học để hiện thực hóa tư tưởng, đạo đức vào đời sống; phong cách là sự biểu hiện sinh động, ổn định, kết tinh toàn bộ tư tưởng, đạo đức, phương pháp của người cán bộ, đảng viên trong thực hiện hằng ngày.
Đề cập đến trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ trong tình hình mới, đồng chí Trần Thanh Lâm nhấn mạnh: Nêu gương không còn là một phẩm chất được khuyến khích, mà trở thành một phương thức lãnh đạo bắt buộc, có tiêu chí phân tầng theo chức vụ: chức vụ càng cao, yêu cầu nêu gương càng cụ thể, càng công khai và càng phải chịu sự giám sát của tổ chức và của nhân dân.
Để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 25-NQ/TW và Chỉ thị số 07-CT/TW trong Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, đồng chí Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các đảng bộ trực thuộc nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng, đồng thời triển khai Nghị quyết và Chỉ thị bài bản, khoa học với nhiều hình thức đa dạng, có sự kết hợp hài hòa giữa trực tiếp và trực tuyến, có nội dung phong phú, cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Thực hiện tốt phương châm "hiểu sâu, hành động đúng, quyết liệt và làm đến cùng".
Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương quán triệt Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới và Quy định của Ban Bí thư về tôn vinh, trọng dụng, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Nghị quyết số 24-NQ/TW không chỉ tiếp nối chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo mà nâng vấn đề lên một tầm mới về yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, trách nhiệm của tổ chức và cơ chế vận hành. “Nếu Kết luận số 14-KL/TW đặt nền móng cho chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Nghị quyết số 24-NQ/TW tiến thêm một bước căn bản: xác định dấn thân, đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là phẩm chất cốt lõi, trách nhiệm chính trị và yêu cầu tự thân của cán bộ, đảng viên; đồng thời yêu cầu hoàn thiện cơ chế giao nhiệm vụ, giao quyền, bảo đảm điều kiện, quản trị rủi ro, tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ người hành động đúng”, đồng chí Nguyễn Thanh Bình cho biết.
Cũng tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe tham luận từ đại diện Đảng ủy các đơn vị: Ban Nội chính Trung ương, Đài Tiếng nói Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Nguyễn Long Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương đề nghị, đối với việc thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, toàn Đảng bộ phải chuyển mạnh từ “học tập” sang “thực hành”, từ “đăng ký” sang “tạo chuyển biến và sản phẩm cụ thể”; đồng thời cho biết, Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương đã có Kế hoạch số 55 để thực hiện Chỉ thị với 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Với việc thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương nhấn mạnh yêu cầu phải tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư tưởng theo phương châm “chủ động - sắc bén - thuyết phục- hiệu quả”; đồng thời cho biết, Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương đã có Kế hoạch số 56 để triển khai thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW.
Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Long Hải cho biết, Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 57 để triển khai thực hiện Nghị quyết. Trong đó, chú trọng thí điểm có kiểm soát đối với những mô hình mới, xác định rõ phạm vi, thời gian, trách nhiệm và tiêu chí đánh giá; qua thực tiễn để sơ kết, rút kinh nghiệm, hoàn thiện và nhân rộng những cách làm hiệu quả. Đồng thời, đổi mới đánh giá cán bộ theo hướng coi trọng sản phẩm, kết quả và hiệu quả thực tế của công việc.
Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương Nguyễn Long Hải đề nghị sau Hội nghị, các đảng ủy trực thuộc không dừng lại ở việc ban hành kế hoạch, mà phải khẩn trương tổ chức triển khai. Mỗi kế hoạch cần được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ trong chương trình công tác của cấp ủy, cơ quan, đơn vị; gắn với trách nhiệm của từng cấp ủy viên, người đứng đầu và từng bộ phận chuyên môn. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, đánh giá; kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân làm tốt, có cách làm sáng tạo, hiệu quả; đồng thời chấn chỉnh những nơi triển khai chậm, hình thức, thiếu thực chất.
5. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương quán triệt, tuyên truyền các chỉ thị, quy định của Đảng
Ngày 9/9, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền chỉ thị, quy định của Đảng.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghiên cứu, quán triệt những nội dung cơ bản, cốt lõi của Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng và Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 20/7/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới. Trong đó tập trung làm rõ những yêu cầu mới gắn với trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thái Học, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị mình, tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt đến cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi quản lý; đồng thời rà soát các chương trình, kế hoạch, quy chế, nhiệm vụ có liên quan để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện phù hợp.
Đối với Quy định số 19-QĐ/TW, cần rà soát trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; quản lý thông tin, phát ngôn; chủ động phòng ngừa và xử lý những vấn đề tư tưởng phát sinh; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng.
Đối với Chỉ thị số 11-CT/TW, các cấp ủy của các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Đảng ủy cần lãnh đạo cụ thể hóa phù hợp với tôn chỉ, mục đích, điều lệ và đặc điểm của từng hội; tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao năng lực tự chủ, tự quản; phát huy nguồn lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Các ban tham mưu, giúp việc Đảng ủy và các cơ quan có liên quan, theo chức năng, nhiệm vụ, chủ động tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện; kịp thời tổng hợp những khó khăn, vướng mắc, vấn đề mới phát sinh để tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Quá trình triển khai phải bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả; đúng chức năng, đúng thẩm quyền; tăng cường phối hợp nhưng không chồng chéo, không làm thay, không để bỏ trống trách nhiệm.
6. Hội nghị tập huấn nghiệp vụ báo cáo viên toàn quân năm 2026
Ngày 08/9, tại Quân khu 4, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức khai mạc Hội nghị tập huấn nghiệp vụ báo cáo viên toàn quân năm 2026. Thượng tướng Trương Thiên Tô, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dự và chỉ đạo Hội nghị.
Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng của Tổng cục Chính trị, Quân khu 4, Ban Tuyên giáo Trung ương cùng 200 báo cáo viên đến từ các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.
Trong 2 ngày, các đại biểu được nghiên cứu 7 chuyên đề do các báo cáo viên Trung ương, Quân ủy Trung ương có nhiều kinh nghiệm thực tiễn truyền đạt; tập trung cập nhật kiến thức, nội dung, kỹ năng, phương pháp và quy trình chuẩn bị, tổ chức một buổi tuyên truyền miệng; nâng cao năng lực nắm, phân tích, dự báo tình hình, lựa chọn, xử lý và định hướng thông tin phù hợp với từng đối tượng, địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Thượng tướng Trương Thiên Tô, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu các học viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, học tập nghiêm túc; chủ động trao đổi, thảo luận, chia sẻ những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cơ sở; chấp hành nghiêm quy định của lớp tập huấn và kỷ luật Quân đội.
Sau tập huấn, đội ngũ báo cáo viên cần vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng được trang bị vào thực hiện nhiệm vụ tại cơ quan, đơn vị; đồng thời tăng cường hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên ở các cấp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, củng cố niềm tin, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trong khuôn khổ chương trình Hội nghị, các đại biểu nghiên cứu thực tế tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Kim Liên, qua đó tìm hiểu sâu sắc hơn về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh.
7. Thành phố Huế đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền các nghị quyết của Đảng
Sáng 11/9, Ban Tuyên giáo Thành ủy Huế tổ chức tổng kết Hội thi trực tuyến “Tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Huế lần thứ XVII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”.
Hội thi được tổ chức nhằm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những nội dung cơ bản, cốt lõi của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Huế lần thứ XVII và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong triển khai thực hiện nghị quyết.
Diễn ra trong 4 tuần, từ ngày 3 đến 30/8/2026, Hội thi thu hút 166.315 lượt dự thi. Cả 44 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Thành ủy tích cực hưởng ứng, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân tham gia. Riêng tuần thi đầu tiên ghi nhận 44.312 lượt dự thi, cao nhất trong 4 tuần.
Hội thi không chỉ thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân trên địa bàn thành phố Huế mà còn nhận được sự hưởng ứng của người dân tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, với 21.907 lượt dự thi.
Ban Tổ chức xây dựng 4 bộ câu hỏi tương ứng với 4 tuần thi, mỗi bộ gồm 15 câu hỏi trắc nghiệm và 1 câu dự đoán số người trả lời đúng. Nội dung tập trung vào những vấn đề cơ bản, cốt lõi của các nghị quyết, được thiết kế theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, thuận tiện cho người tham gia nghiên cứu, tìm hiểu.
Hội thi được triển khai trên nền tảng Hue-S, tạo thuận lợi cho người tham gia bằng các thiết bị thông minh có kết nối internet. Qua đó, góp phần đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, ứng dụng công nghệ số trong phổ biến, quán triệt nghị quyết của Đảng, đưa nghị quyết đến gần hơn với cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Tại Lễ tổng kết, Ban Tổ chức trao giấy chứng nhận cho các cá nhân đạt giải và khen thưởng 5 tập thể có thành tích tiêu biểu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai và hưởng ứng Hội thi.
8. Cà Mau: Học tập và thực hành theo Bác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả
Chiều 10/9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai chuyên đề học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh về “Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” và Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
Hơn 350 đại biểu là cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí trong tỉnh tham dự Hội nghị.
Quán triệt chuyên đề, đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau nhấn mạnh, học tập và thực hành theo Bác không chỉ dừng ở nhận thức mà phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả trong công việc và cuộc sống.
Khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc phải bắt đầu từ mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân, bằng tinh thần tự lực, tự cường, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm với công việc và cộng đồng. Trong vận dụng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, cần giữ vững nguyên tắc, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, phù hợp điều kiện thực tiễn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Việc học và làm theo Bác phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ; đề cao tinh thần nói đi đôi với làm, trách nhiệm, kỷ luật, tận tâm, hiệu quả; lấy chất lượng công việc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thường xuyên tự soi, tự sửa, giữ gìn phẩm chất, bản lĩnh, lối sống trong sạch; kiên quyết nói không với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đối với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm báo, việc học và làm theo Bác cần gắn với trách nhiệm đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống; phản ánh trung thực những vấn đề Nhân dân quan tâm; lan tỏa các giá trị tốt đẹp, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tiêu cực, lệch chuẩn.
Trước đó, ngày 7/8, Tỉnh ủy Cà Mau đã tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị, kết nối trực tuyến tới 301 điểm cầu với hơn 22.000 đảng viên tham dự. Tỉnh cũng biên soạn, phát hành 7.500 cuốn tài liệu phục vụ sinh hoạt, học tập chuyên đề về “Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.
Cũng tại Hội nghị, các đại biểu được quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chú trọng phòng ngừa, kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đồng thời phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm.
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải được tiến hành thường xuyên, chủ động, bắt đầu từ ý thức tự giác, tự soi, tự giữ mình của mỗi cán bộ, đảng viên; không để lợi ích cá nhân chi phối việc thực thi nhiệm vụ; quản lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả tiền, tài sản, thời gian và các nguồn lực được giao, qua đó góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của Nhân dân.
9. Đồng Nai: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế
Ngày 10/9, Thành ủy Đồng Nai tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và thông tin thời sự năm 2026.
Tại Hội nghị, các đại biểu được quán triệt những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 06-NQ/TW; đồng thời được thông tin về tình hình thế giới, khu vực, trong nước và những vấn đề đặt ra đối với công tác đối ngoại của thành phố Đồng Nai trong tình hình mới.
Hội nghị cũng quán triệt một số nội dung trọng tâm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác, nhất là yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin trong điều kiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Thái Bảo, Phó Bí thư Thành ủy, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Đồng Nai nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị.
Việc triển khai Nghị quyết cần gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập, phát triển của thành phố; chủ động khai thác hiệu quả các cơ hội hợp tác, thu hút nguồn lực đầu tư, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển.
Cùng với đó, các cấp, các ngành tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội; tăng cường cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, chính xác về tình hình thế giới, khu vực, đất nước và các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước; chủ động nắm bắt, phân tích, dự báo những vấn đề có thể tác động đến địa phương và Nhân dân.
Đồng chí Thái Bảo đề nghị nâng cao chất lượng công tác đối ngoại địa phương; tăng cường phối hợp, chủ động tham mưu, xây dựng các chương trình, hoạt động đối ngoại theo hướng thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm, gắn với đối tác và mục tiêu cụ thể, tránh dàn trải, hình thức, trùng lặp.
Sau Hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn; tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả.
Đối với công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên được yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định; nâng cao ý thức cảnh giác, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, quản lý, sử dụng thông tin, tài liệu; bảo đảm an toàn trong quá trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu trên các thiết bị và nền tảng số. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên rà soát quy chế, quy trình nghiệp vụ, kịp thời khắc phục những sơ hở, thiếu sót, không để xảy ra lộ, lọt thông tin, tài liệu.
10. Cần Thơ gắn việc học tập, thực hành theo Bác với rèn luyện phẩm chất, nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp công tác
Ngày 10/9, Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị mới của Bộ Chính trị dành cho cán bộ, đảng viên chưa tham dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngày 3/9.
Tại Hội nghị, các đại biểu được nghiên cứu, quán triệt những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" và chuyên đề toàn khóa về nội dung này.
Hội nghị cũng quán triệt các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới; công tác người Việt Nam ở nước ngoài; phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Trần Văn Huyến, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ nhấn mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định việc nghiên cứu, học tập nghị quyết, chỉ thị là nhiệm vụ chính trị quan trọng; tập trung nắm vững các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, những điểm mới và mối liên hệ giữa các văn kiện. Việc học tập phải gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, khắc phục tình trạng hình thức, nhận thức chung chung, thiếu liên hệ với thực tiễn.
Đồng chí Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ yêu cầu cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gắn việc học tập, thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh với rèn luyện phẩm chất, nâng cao năng lực, đổi mới phương pháp công tác; nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy phục vụ Nhân dân.
Ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị được yêu cầu khẩn trương cụ thể hóa các nội dung đã được quán triệt thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ phù hợp với chức năng và điều kiện thực tế, gắn với thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp; bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Các cấp ủy, người đứng đầu tăng cường theo dõi, kiểm tra việc triển khai ngay từ đầu; kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị được tổ chức thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả.
11. Đà Nẵng nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Ngày 9/9, Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cấp thành phố lần thứ 3, năm 2026.
Cuộc thi năm nay thu hút 4.012 tác phẩm tham gia; trong đó, 458 tác phẩm được lựa chọn dự thi cấp thành phố, 50 tác phẩm xuất sắc được gửi tham dự Cuộc thi cấp Trung ương. Ban Tổ chức công nhận, trao thưởng cho 11 tập thể và 30 tác phẩm của các tác giả, nhóm tác giả, gồm 2 giải A, 4 giải B, 4 giải C, 10 giải Khuyến khích và 10 giải chuyên đề.
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Khắc Toàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Thành ủy Đà Nẵng nhấn mạnh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trực tiếp góp phần bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố đồng thuận xã hội và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, gắn với trách nhiệm của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Đà Nẵng đề nghị các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, bài bản, thực chất.
Đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm cuộc thi thực sự trở thành diễn đàn chính luận có chiều sâu, gắn lý luận với thực tiễn và có sức lan tỏa rộng rãi. Các cơ quan, đơn vị cần quan tâm phát hiện, bồi dưỡng lực lượng viết chính luận; tạo điều kiện để cán bộ, tác giả tiếp cận nguồn thông tin chính thống, nâng cao năng lực nghiên cứu, kỹ năng viết và khả năng đấu tranh trên không gian mạng.
Thông qua cuộc thi, tiếp tục lan tỏa niềm tin, củng cố bản lĩnh chính trị, phát huy trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ thành phố Đà Nẵng.
12. Thái Nguyên chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng
Ngày 11/9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên tổ chức Hội nghị thống nhất công tác chuẩn bị Hội thảo và Trưng bày chuyên đề kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026).
Theo kế hoạch, các hoạt động kỷ niệm được triển khai theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên, với sự phối hợp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Hội Nhà báo Việt Nam, Bảo tàng Báo chí Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan. Tại Hội nghị, các đại biểu rà soát tiến độ, thống nhất những nội dung trọng tâm trong công tác chuẩn bị hội thảo khoa học, trưng bày chuyên đề và các hoạt động liên quan.
Trưng bày chuyên đề dự kiến giới thiệu hệ thống tư liệu, hình ảnh, hiện vật về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng, cùng những dấu ấn của Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam. Các đơn vị tập trung rà soát, lựa chọn, sắp xếp tư liệu, xây dựng không gian trưng bày bảo đảm khoa học, trang trọng, phù hợp với tổng thể chương trình kỷ niệm.
Công tác thông tin, tuyên truyền cũng được triển khai đồng bộ trước, trong và sau sự kiện, qua đó góp phần giới thiệu sâu rộng về cuộc đời, sự nghiệp, những đóng góp của Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng và giá trị lịch sử của Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng.
Kết luận Hội nghị, đồng chí Đỗ Thị Minh Hoa, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên đề nghị các cơ quan, đơn vị tiếp tục phối hợp chặt chẽ, rà soát toàn bộ công tác chuẩn bị; khẩn trương hoàn thiện nội dung hội thảo, trưng bày, hệ thống tư liệu và phương án tuyên truyền, bảo đảm tiến độ, chất lượng, góp phần tổ chức thiết thực, trang trọng các hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng.
