Phát huy nguồn lực văn hóa, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia

Ngày 21/10, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học “Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia”. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương tham dự Hội thảo.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương trình bày tham luận tại Hội thảo.

Trình bày tham luận “Chuyển đổi số văn hóa: Từ lưu giữ ký ức đến kiến tạo tương lai”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh chuyển đổi số văn hóa trước hết là chuyển đổi tư duy phát triển, không đơn thuần là ứng dụng công nghệ. Dữ liệu văn hóa cần được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, một bộ phận của hạ tầng phát triển quốc gia, có khả năng kết nối, chia sẻ và tạo ra những giá trị mới.

Đồng chí Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, cần sớm hoàn thiện kiến trúc và bộ tiêu chuẩn dữ liệu văn hóa quốc gia, thống nhất cơ chế định danh và phân định trách nhiệm quản trị; đồng thời chú trọng đào tạo nhân lực có năng lực kết hợp kiến thức văn hóa với công nghệ và quản trị dữ liệu.

Việc đầu tư cho chuyển đổi số cũng cần vượt ra ngoài máy móc, phần mềm, bao gồm cả thu thập, kiểm chứng, chuẩn hóa, lưu trữ dài hạn, bảo đảm an toàn và tạo điều kiện tái sử dụng dữ liệu. Cùng với đó, cần thúc đẩy hợp tác công-tư, huy động sự tham gia của nhà trường, bảo tàng, viện nghiên cứu, doanh nghiệp sáng tạo và cộng đồng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá bằng những giá trị thực tế tạo ra cho đời sống, từ giáo dục, du lịch đến công nghiệp văn hóa và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), thay vì chỉ dựa vào số lượng di sản được số hóa hoặc dữ liệu được đưa lên hệ thống.

Tại Hội thảo, có 8 báo cáo được trình bày, tập trung vào ba nhóm vấn đề: thể chế và thị trường công nghiệp văn hóa; số hóa di sản và hạ tầng dữ liệu; quyền, đạo đức và trách nhiệm trong khai thác văn hóa. Các tham luận kết hợp nghiên cứu lý luận, phân tích chính sách và kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam, một số địa phương như Ninh Bình, Lào Cai, đồng thời tham chiếu các mô hình quốc tế như Digital Dunhuang (Trung Quốc), Europeana (châu Âu) và Japan Search (Nhật Bản).

Từ các ý kiến trao đổi, nhiều đề xuất được đặt ra nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Trong đó, chính sách cần được thiết kế theo chuỗi giá trị, kết nối các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối và phát triển công chúng; chú trọng hỗ trợ nhân lực, chủ thể sáng tạo, nhu cầu tiêu dùng và khả năng tiếp cận thị trường, thay vì thiên về đầu tư công trình, thiết bị.

Quang cảnh Hội thảo.

Các đại biểu cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế về tài sản trí tuệ và hợp tác công-tư, làm rõ việc xác lập quyền, định giá, cấp phép, phân bổ rủi ro và khai thác tài sản công. Hoạt động thương mại hóa giá trị văn hóa cần gắn với trách nhiệm tái đầu tư cho bảo tồn, duy trì nguồn lực và bảo đảm lợi ích của các chủ thể liên quan.

Đối với dữ liệu văn hóa, cần xác lập khung quản trị thống nhất, quy định rõ nguyên tắc liên thông, cập nhật, lưu trữ, tiếp cận và tái sử dụng; đồng thời có cơ chế bảo vệ thông tin nhạy cảm. Chính sách phát triển công nghiệp văn hóa cũng cần bảo đảm quyền cộng đồng, thiết lập cơ chế tham vấn, đại diện, khiếu nại và giải quyết tranh chấp, cùng các quy định về đạo đức và thử nghiệm công nghệ có kiểm soát, nhất là với trí tuệ nhân tạo (AI).

Các tham luận cho thấy di sản phong phú hay việc số hóa dữ liệu tự thân chưa đủ để hình thành một ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Điều kiện quan trọng là kết nối hiệu quả giữa thể chế, dữ liệu, năng lực sáng tạo, thị trường và trách nhiệm xã hội.

Ban Tổ chức sẽ tổng hợp các ý kiến, kiến nghị tại hội thảo để phục vụ công tác tư vấn chính sách, góp phần hoàn thiện cơ chế phát huy nguồn lực văn hóa, đưa các giá trị di sản và sáng tạo vào đời sống đương đại, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước.