Lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về thành phần kinh tế và vấn đề phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới
Phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới vừa là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới, vừa là sự vận dụng sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn hơn 30 năm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cho thấy khu vực tư nhân ngày càng giữ vị trí quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, để khu vực này phát triển đúng hướng, tương xứng với tiềm năng và đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường liên kết và phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước.
1. Kinh tế tư nhân được hiểu là khu vực kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân về vốn, tài sản và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các chủ thể như hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần[1], hợp tác xã kiểu mới do tư nhân góp vốn chi phối,…
Trong nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế tư nhân là quá trình gia tăng cả quy mô[2], chất lượng[3], và đóng góp[4] của khu vực này; đồng thời mở rộng mức độ tham gia của kinh tế tư nhân vào các ngành/lĩnh vực và mạng lưới thị trường trong nước và quốc tế.
Về mặt lý thuyết, kinh tế tư nhân thường được xem là "động lực vi mô" thúc đẩy tăng trưởng nhờ cơ chế khuyến khích lợi nhuận, tính linh hoạt, khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả và đổi mới. Tuy nhiên mức độ đóng góp phụ thuộc mạnh vào chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh[5]. Do đó, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là tăng số lượng chủ thể mà còn là nâng cấp năng lực nội tại và tạo lập hệ sinh thái chính sách thị trường thuận lợi để khu vực tư nhân phát triển bền vững và lan tỏa sang các khu vực khác của nền kinh tế.
Theo kinh tế chính trị Mác - Lênin, sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. C. Mác chỉ rõ rằng "quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất"[6], do đó ở những xã hội chưa phát triển cao, sự đa dạng của các hình thức sở hữu, từ sở hữu nhỏ, sở hữu tư nhân đến các hình thức hợp tác, là hiện tượng tự nhiên, phản ánh đúng quy luật phát triển của kinh tế hàng hóa. Đồng thời, C.Mác nhấn mạnh vai trò thúc đẩy của cạnh tranh, coi đó là "động lực mạnh mẽ của sản xuất tư bản chủ nghĩa"[7], cho thấy ngay cả khi phê phán chủ nghĩa tư bản, ông vẫn thừa nhận yếu tố tiến bộ của kinh tế tư nhân trong phát triển lực lượng sản xuất.
V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển lý luận của Mác khi phân tích tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ tại các nước có trình độ phát triển thấp. Trong Chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin chỉ rõ rằng các hình thức kinh tế như kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hàng hóa nhỏ, kinh tế hỗn hợp hay "chủ nghĩa tư bản nhà nước" không phải là bước thụt lùi, mà là biện pháp khoa học nhằm khơi thông sản xuất, huy động nguồn lực xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Theo Lênin, điều cốt lõi là Nhà nước vô sản phải nắm vai trò điều tiết, quản lý, định hướng để bảo đảm sự phát triển của các thành phần kinh tế không đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa[8].
Có thể thấy, lý luận của Mác và Lênin đều xác nhận tính lâu dài và tất yếu của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Đây cũng chính là tư duy nền tảng khẳng định "phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế"[9]. Sự khẳng định này không chỉ phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, mà còn cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng ta về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc phát triển hài hòa, đúng hướng các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, là yêu cầu khách quan nhằm phát huy mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước[10].
2. Hiện nay ở nước ta, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, tạo hơn 30% nguồn thu ngân sách nhà nước, huy động gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và tạo việc làm cho trên 40 triệu lao động (khoảng 82% lực lượng lao động)[11]. Đồng thời, khu vực tư nhân hiện có gần một triệu doanh nghiệp cùng khoảng 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, phản ánh độ phủ rộng và sức lan tỏa lớn của khu vực trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Đến cuối năm 2025, quy mô cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục tăng, với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động được nêu đạt gần 1,1 triệu, củng cố thêm vai trò "trụ cột" của khu vực doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển mới.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, xanh hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và yêu cầu năng suất cao hơn, kinh tế tư nhân ở Việt Nam vừa thể hiện vai trò trụ cột, vừa bộc lộ những "điểm nghẽn" phát triển theo chiều sâu. Giai đoạn 2020 - 2025 cho thấy, kinh tế tư nhân ở Việt Nam vận động theo "đường cong sốc -phục hồi - tái tăng tốc", đồng thời bộc lộ rõ bài toán phát triển theo chiều sâu trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu xanh hóa và cạnh tranh chuỗi cung ứng.
Năm 2020, cú sốc Covid-19 khiến cầu tiêu dùng và dòng tiền doanh nghiệp suy giảm, nhưng động lực khởi sự vẫn đáng kể, Việt Nam ghi nhận gần 135.000 doanh nghiệp đăng ký mới trong năm 2020[12]. Năm 2021, làn sóng dịch và giãn cách kéo dài làm gia tăng chi phí tuân thủ, đứt gãy lao động -logistics, khiến sức chịu đựng của khu vực nhỏ và siêu nhỏ bị thử thách; số liệu 9 tháng đầu năm 2021 cho thấy doanh nghiệp đăng ký mới giảm so với cùng kỳ, phản ánh mức độ giảm sút và trì hoãn đầu tư trong khu vực tư nhân. Từ 2022 đến 2023, bức tranh chuyển sang phục hồi nhưng không đồng đều. Khi nền kinh tế mở cửa và cầu thế giới dần cải thiện, nhiều doanh nghiệp tư nhân tận dụng số hóa kênh bán hàng, thương mại điện tử và dịch vụ giao vận để phục hồi doanh thu. Tuy vậy, giai đoạn này cũng chịu sức ép lãi suất, thị trường vốn và bất động sản trầm lắng, khiến doanh nghiệp tư nhân[13] gặp khó trong tiếp cận tín dụng trung dài hạn, tái cơ cấu nợ và duy trì dòng tiền. Độ "mỏng" về quản trị, minh bạch tài chính và năng lực hấp thụ công nghệ làm khoảng cách giữa nhóm doanh nghiệp dẫn dắt và nhóm còn lại nới rộng, kéo theo năng suất tăng chậm và mức độ tham gia chuỗi giá trị còn hạn chế. Năm 2024 - 2025 là giai đoạn tái tăng tốc rõ hơn, gắn với phục hồi vĩ mô và các tín hiệu cải cách thúc đẩy khu vực tư nhân. Năm 2024, kinh tế tăng trưởng mạnh tạo nền cho cầu nội địa và hoạt động sản xuất - xuất khẩu phục hồi. Đồng thời, năm 2024 có 76.179 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, góp phần củng cố khu vực tư nhân. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.919,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.151,4 nghìn lao động[14].
Ở bình diện cấu trúc, các tổng hợp công bố năm 2025 cho thấy khu vực tư nhân[15] đã trở thành "trụ cột" khi đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% thu ngân sách nhà nước, sử dụng hơn 40 triệu lao động và chiếm khoảng 82% lực lượng lao động, cùng gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Tuy nhiên, rủi ro "phát triển lệch" cũng nổi lên, định hướng tạo "doanh nghiệp đầu đàn" theo các chính sách thúc đẩy mới có thể làm gia tăng lo ngại về thiên lệch ưu đãi, tập trung tín dụng và minh bạch cạnh tranh nếu thiếu cơ chế giám sát phù hợp.
3. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn trên, việc phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước mà Đảng đã xác định, đồng thời vận dụng sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của các thành phần kinh tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tăng cường xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực số, nhân lực quản trị và nhân lực kỹ thuật cao. Nhà nước cần tăng cường kết nối giữa hệ thống giáo dục - đào tạo với doanh nghiệp tư nhân; đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, kỹ năng quản lý hiện đại; mở rộng các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân tài trong khu vực tư nhân, tạo điều kiện hình thành đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp với định hướng của Đảng về "xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh"[16].
Thứ hai, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực tư nhân. Nhà nước cần thiết kế các cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn như ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư, các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số, cũng như mô hình sandbox cho các mô hình kinh doanh mới. Điều này sẽ giúp khu vực tư nhân bắt kịp các xu thế công nghệ toàn cầu, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Đây cũng là cách để phát huy đúng tinh thần của Mác về vai trò của đổi mới công nghệ đối với phát triển lực lượng sản xuất, và tư tưởng của Lênin về việc sử dụng các yếu tố kinh tế tiên tiến nhằm thúc đẩy phát triển quốc gia.
Thứ ba, tăng cường liên kết giữa khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, khu vực FDI và các tổ chức khoa học, công nghệ. Thông qua các chương trình hợp tác chuỗi giá trị, liên kết sản xuất, tiêu thụ, chuyển giao công nghệ, khu vực tư nhân có thể nâng cao năng lực, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, điều phối và hỗ trợ thông qua các cơ chế hợp tác công - tư (PPP), các trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia.
Thứ tư, cần gắn với yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. Nhà nước cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân áp dụng mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thực hiện các tiêu chuẩn ESG; đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này phù hợp với cảnh báo của Mác về hệ quả tiêu cực của phát triển tư bản chủ nghĩa nếu không có sự điều tiết xã hội, và với quan điểm của Đảng về "phát triển nhanh gắn với bền vững".
Thứ năm, tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, thúc đẩy kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lợi ích nhóm và tạo dựng niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong phản biện chính sách, hỗ trợ kết nối thị trường và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp tư nhân. Đây là những điều kiện bảo đảm để khu vực kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như Đảng đã nhiều lần khẳng định trong các văn kiện quan trọng.
Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch; đặc biệt chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, xóa bỏ các rào cản bất hợp lý và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
“Chúng ta có truyền thống quật cường, lòng yêu nước nồng nàn, cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ sở chính trị - pháp lý chặt chẽ, toàn diện; với khát vọng, ý chí, sự thống nhất đồng lòng, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp, doanh nhân và toàn dân trong thực hiện mục tiêu “ổn định, phát triển chất lượng cao, nâng cao đời sống mọi mặt của người dân”, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết, sớm đưa kinh tế tư nhân phát triển xứng tầm, thật sự trở thành một động lực quan trọng nhất, trụ cột bảo đảm sự phát triển vững mạnh của nền kinh tế quốc gia, hiện thực khát vọng xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”17.
TS. Nguyễn Văn Dương
[1] Không thuộc sở hữu Nhà nước.
[2] Số lượng doanh nghiệp/hộ kinh doanh, vốn, lao động.
[3] Năng suất, đổi mới sáng tạo, quản trị, khả năng cạnh tranh.
[4] GDP, ngân sách, việc làm, xuất khẩu, liên kết chuỗi giá trị.
[5] Bảo đảm quyền tài sản, thực thi hợp đồng, chi phí tuân thủ, cạnh tranh bình đẳng, tiếp cận vốn/đất đai/thông tin.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (1993). Toàn tập, Tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.13.
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập, Tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.23.
[8] V.I. Lênin (2006). Toàn tập, Tập 44 - 45. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
[10] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới.
[11] Nguyễn Sĩ Dũng (2025). Thông điệp của Tổng Bí Thư về phát triển kinh tế tư nhân: Tư duy và tầm nhìn chiến lược. https://baochinhphu.vn/thong-diep-cua-tong-bi-thu-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-tu-duy-va-tam-nhin-chien-luoc-102250319134003758.htm.
[12]VietnamPlus (2021). Năm 2020, cả nước có gần 135.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. https://www.vietnamplus.vn/nam-2020-ca-nuoc-co-gan-135000-doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-moi-post687599.vnp.
[13] Đặc biệt nhóm vừa và nhỏ.
[14] Ngô Hoàn (2026). Infographic: 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2025. https://tapchikinhtetaichinh.vn/infographic-1951-nghin-doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-moi-nam-2025-141907.html.
[15] Kèm hộ kinh doanh.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
17 Tổng Bí thư Tô Lâm: Động lực mới cho phát triển kinh tế.
https://nhandan.vn/special/dong-luc-moi-cho-phat-trien-kinh-te-110525/index.html#source=article%2Ftopic-box-704911
