Bài viết của đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương: "Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng - Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước"
Ban Biên tập trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương: "Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng - Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước".
Trải qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác chính trị, tư tưởng tiếp tục giữ vai trò quan trọng then chốt trong nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; trong hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại; tạo nên quyết tâm chính trị mạnh mẽ, thống nhất trong tư tưởng và hành động quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang cả nước để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược đã đề ra.
Công tác chính trị, tư tưởng - vấn đề có tính quy luật của đảng cầm quyền
Trong tiến trình phát triển của các đảng cầm quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực tiễn lịch sử đã nhiều lần khẳng định một quy luật có tính phổ quát: sự vững mạnh hay suy yếu của Đảng trước hết bắt nguồn từ trạng thái của nền tảng tư tưởng và chất lượng công tác chính trị, tư tưởng. Nền tảng tư tưởng vững chắc sẽ tạo nên sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, từ đó lan tỏa thành sức mạnh đoàn kết toàn xã hội; ngược lại, khi nền tảng tư tưởng bị xói mòn, niềm tin chính trị suy giảm, thì dù bộ máy tổ chức có quy mô lớn đến đâu cũng khó có thể giữ vững vai trò lãnh đạo.
Lịch sử thế giới những thập niên cuối thế kỷ XX cho thấy, đã có những quốc gia xã hội chủ nghĩa từng đạt được nhiều thành tựu quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nhưng khi công tác chính trị, tư tưởng bị xem nhẹ, nền tảng lý luận bị lung lay, niềm tin xã hội suy giảm, thì hệ thống chính trị nhanh chóng rơi vào khủng hoảng, đảng đánh mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền, thậm chí tan rã trong thời gian ngắn. Ngược lại, có những quốc gia phải đối mặt với hậu quả chiến tranh, bao vây, cấm vận, chống phá từ các thế lực thù địch, xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp kém, lạc hậu, nhờ giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội, đổi mới và phát huy hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, đã vượt qua khó khăn, thách thức, đi vào ổn định và phát triển bền vững.
Đối với Việt Nam, hơn 40 năm đổi mới không chỉ là quá trình đổi mới kinh tế sâu rộng, mà còn là quá trình đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng. Thành tựu đạt được trong thời gian qua là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là việc giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng và sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội. Trong bối cảnh mới, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh và bền vững với yêu cầu ngày càng cao, việc tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhận diện đầy đủ những bài học lớn từ kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa và từ chính thực tiễn Việt Nam là hết sức cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Thực tiễn một số quốc gia từng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy, những biến động lớn về chính trị - xã hội không chỉ xuất phát từ khó khăn kinh tế hay hạn chế trong quản trị nhà nước, mà sâu xa hơn là từ những sai lầm, yếu kém trong công tác chính trị, tư tưởng, có thể khái quát ở một số phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, dao động về nền tảng chính trị, tư tưởng và lý luận. Một trong những biểu hiện đáng chú ý là sự giảm sút niềm tin vào hệ tư tưởng nền tảng, dẫn đến việc xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Khi đó, một số lực lượng đã tuyệt đối hóa các mô hình phát triển bên ngoài, coi đó là “khuôn mẫu phổ quát”, thay vì vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia mình. Hệ quả là mất phương hướng chiến lược, thiếu cơ sở lý luận vững chắc để lãnh đạo xã hội, tạo ra khoảng trống chính trị, tư tưởng trong nội bộ đảng và trong quần chúng.
Thứ hai, buông lỏng trận địa chính trị, tư tưởng trong điều kiện mở cửa, hội nhập. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu không có cơ chế định hướng kịp thời và hiệu quả, thông tin đa chiều có thể bị lợi dụng để lan truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội. Khi công tác chính trị, tư tưởng không theo kịp sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trong điều kiện bùng nổ thông tin, truyền thông, nhất là buông lỏng quản lý môi trường internet, thiếu sự định hướng của các luồng tư tưởng chính thống, thì xã hội dễ bị dẫn dắt theo những khuynh hướng chính trị tiêu cực, phản động; kết hợp sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ làm suy giảm niềm tin vào đảng cầm quyền và chế độ.
Thứ ba, tách rời công tác tư tưởng với đời sống thực tiễn của nhân dân. Một số nơi đã mắc phải tình trạng tuyên truyền mang tính hình thức, xa rời thực tế, không gắn với việc giải quyết các vấn đề thiết thực của đời sống xã hội. Khi lời nói không đi đôi với việc làm; dư luận xã hội vẫn còn nhiều băn khoăn, lo lắng, chưa đồng thuận; bức xúc xã hội chưa được giải tỏa; các chủ trương, chính sách không mang lại cải thiện rõ rệt cho đời sống nhân dân, thì công tác tư tưởng mất dần sức thuyết phục, niềm tin xã hội bị xói mòn.
Thứ tư, suy thoái tư tưởng chính trị trong nội bộ Đảng. Biểu hiện ở sự dao động về lý tưởng, suy giảm ý chí chính trị, thiếu niềm tin vào con đường phát triển đã lựa chọn, thậm chí xuất hiện tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Đây là nguy cơ trực tiếp và nguy hiểm nhất, bởi khi nội bộ đảng không còn thống nhất về tư tưởng và hành động, thì vai trò lãnh đạo tất yếu bị suy yếu.
Thứ năm, chậm đổi mới phương thức công tác tư tưởng. Việc duy trì phương thức tuyên truyền một chiều, nội dung giáo điều, thiếu hấp dẫn, không phù hợp với trình độ dân trí và nhu cầu thông tin ngày càng cao của xã hội khiến công tác tư tưởng mất dần ảnh hưởng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Khi công tác tư tưởng không theo kịp thời đại, thì khoảng cách giữa Đảng và xã hội có nguy cơ gia tăng.
Những vấn đề trên không chỉ mang tính cảnh báo, mà còn là những bài học sâu sắc trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ chính kinh nghiệm thực tiễn của các nước xã hội chủ nghĩa, cần được nhận diện nhằm nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thực tiễn 40 năm đổi mới ở Việt Nam - một số bài học kinh nghiệm về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng, Người xem đây là công việc quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hơn 95 năm qua, Đảng ta xác định công tác chính trị, tư tưởng là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; lĩnh vực trọng yếu, nền tảng tư tưởng của Đảng, nền tảng chính trị của chế độ. Trải qua 40 năm Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, đây không chỉ là quá trình đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện, mà còn là quá trình đổi mới tư duy lý luận, phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng. Những thành tựu đất nước đạt được trong công cuộc đổi mới là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là việc giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng và sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội vào chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn 40 năm đổi mới có thể khái quát một số bài học kinh nghiệm về công tác chính trị, tư tưởng như sau:
Một là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc bất biến trong mọi hoàn cảnh. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Sự kiên định này không mang tính giáo điều, mà luôn gắn liền với quá trình phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Đại hội XIV của Đảng tổng kết 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đã nêu rõ bài học kinh nghiệm đầu tiên là: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; lấy phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân...”(1). Tinh thần “vừa kiên định, vừa vận dụng, phát triển sáng tạo” chính là bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tư duy chiến lược, sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước của Đảng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa kiên định với đổi mới sáng tạo đã giúp Đảng ta giữ vững vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu, đồng thời thích ứng linh hoạt với những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới.
Hai là, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện công tác chính trị, tư tưởng phải bắt đầu từ nội bộ Đảng, sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng là cơ sở để tạo sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và đồng thuận trong toàn xã hội. Để công tác chính trị, tư tưởng đạt hiệu quả cần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, trách nhiệm nêu gương, tính chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trong chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Ba là, đổi mới tư duy lý luận gắn với thực tiễn phát triển đất nước. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trước hết là đổi mới tư duy. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, Đảng ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV của Đảng khẳng định hệ thống lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, có được trên cơ sở “vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới; là sự bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp với các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại;…”(2). Theo đó “xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa;…”(3) vừa kế thừa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, vừa phản ánh sinh động thực tiễn phát triển của đất nước. Nhờ đổi mới tư duy lý luận gắn với thực tiễn đất nước, Đảng ta không rơi vào tình trạng khủng hoảng lý luận, mà luôn giữ được vai trò lãnh đạo định hướng, dẫn dắt xã hội.
Bốn là, gắn công tác chính trị, tư tưởng với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Một trong những bài học nổi bật của đổi mới là luôn gắn công tác chính trị, tư tưởng với thực tiễn phát triển đất nước. Các chủ trương, đường lối của Đảng không chỉ được tuyên truyền, quán triệt, mà còn được thể chế hóa, cụ thể hóa bằng các chính sách thiết thực, bằng những hành động ngày càng nhanh chóng, quyết liệt, hiệu quả nhằm mang lại lợi ích trực tiếp cho đất nước, cho nhân dân, với mục tiêu, yêu cầu là đặt ấm no, hạnh phúc của nhân dân ở vị trí trung tâm, lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tạo cơ sở vững chắc để củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, qua đó huy động được các nguồn lực trong xã hội cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, khi nhân dân được thụ hưởng thành quả phát triển, thì niềm tin đối với Đảng và chế độ được củng cố một cách bền vững và sâu sắc.
Năm là, chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không để bị động, bất ngờ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ thông tin, Đảng ta đã chủ động xây dựng lực lượng và cơ chế để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đến nay, công tác này không chỉ được triển khai trong nội bộ Đảng, mà còn mở rộng ra toàn xã hội, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trên không gian mạng, góp phần chủ động đấu tranh giữ vững trận địa tư tưởng, không để bị động, bất ngờ trước âm mưu của các thế lực thù địch, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới.
Sáu là, đổi mới phương thức công tác tư tưởng phù hợp với xu thế thời đại. Công tác chính trị, tư tưởng hiện nay đã có sự chuyển biến rõ nét về phương thức, từ truyền đạt một chiều sang đối thoại, tương tác đa chiều, vận động thuyết phục; từ tuyên truyền hành chính sang truyền thông hiện đại, đa nền tảng. Việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong thông tin, truyền thông, sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, các phương tiện truyền thông mới đã giúp nâng cao hiệu quả lan tỏa công tác tư tưởng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.
Bảy là, xây dựng hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu, làm công tác chính trị, tư tưởng của Đảng vững mạnh, bảo đảm về số lượng và chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ làm công tác chính trị, tư tưởng ngày càng được quan tâm xây dựng, bồi dưỡng về bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận và kỹ năng thực tiễn. Đây là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của công tác tư tưởng, bởi mọi chủ trương, đường lối đều phải thông qua con người để tổ chức thực hiện.
Yêu cầu đặt ra đối với công tác chính trị, tư tưởng trong giai đoạn phát triển mới
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với các mục tiêu, tầm nhìn chiến lược 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, cùng khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước vừa có nhiều thuận lợi, thời cơ lớn đan xen với những khó khăn, thách thức gay gắt, công tác chính trị, tư tưởng tập trung vào những yêu cầu trọng tâm sau:
Thứ nhất, kiên định vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Thực hiện nghiêm túc “4 kiên định”, đó là: Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời không ngừng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Kiên định trong công tác chính trị, tư tưởng không đồng nghĩa với bảo thủ, mà là giữ vững bản chất, nguyên tắc cốt lõi, đồng thời chủ động đổi mới, phát triển thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại.
Thứ hai, nâng cao nhận thức và tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với công tác chính trị, tư tưởng. Tổ chức đảng, cấp ủy, trực tiếp là bí thư cấp ủy, từ Trung ương đến cơ sở, cần đặt công tác chính trị, tư tưởng thành nhiệm vụ trọng tâm; thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng với những giải pháp rất cụ thể, thiết thực. Sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng là nhân tố quyết định sức mạnh và thành công của công tác chính trị, tư tưởng. Đồng thời, phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự vững vàng về bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng, không dao động trước những tác động phức tạp của tình hình. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thứ ba, gắn chặt công tác chính trị, tư tưởng với thực tiễn phát triển đất nước và lợi ích thiết thực của nhân dân. Công tác chính trị, tư tưởng cùng với việc góp phần trực tiếp vào nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, cần phải bám sát nhiệm vụ phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Công tác chính trị, tư tưởng cần đi trước mở đường, dẫn dắt và đóng vai trò chủ công trong việc xây dựng, bồi đắp quyết tâm chính trị, thống nhất tư tưởng, hành động quyết liệt nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới. Mọi nội dung tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ phải xuất phát từ thực tiễn, hướng vào giải quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm, nhân dân mong đợi. Lấy hiệu quả cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân làm thước đo quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, qua đó củng cố niềm tin xã hội một cách bền vững.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức công tác tư tưởng theo hướng tiên tiến, chuyên nghiệp, hiệu quả. Công tác chính trị, tư tưởng phải góp phần quan trọng trực tiếp xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Hướng công tác chính trị, tư tưởng vào việc bồi đắp bản lĩnh chính trị, nâng tầm trí tuệ, xây dựng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Nâng cao trình độ tổng kết thực tiễn, nâng tầm nghiên cứu lý luận, cung cấp căn cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định đúng đắn và thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chuyển mạnh từ truyền thông một chiều sang tương tác đa chiều; từ tuyên truyền hành chính sang truyền thông thuyết phục, lan tỏa. Phát triển hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng, phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ; nâng cao tính hấp dẫn, tính chiến đấu và tính định hướng của nội dung.
Thứ năm, tích cực, chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền tảng chính trị của chế độ. Nâng cao cảnh giác cách mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, bản lĩnh, trách nhiệm chính trị và tính chiến đấu của cán bộ, đảng viên, tính tích cực chính trị - xã hội của nhân dân, chủ động nắm bắt nhanh, kịp thời, kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch trong xã hội và trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng. Kịp thời xử lý, ngăn chặn những thông tin giả, xấu, độc, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Đồng thời, phải “lấy xây làm chính”, tăng cường cung cấp thông tin chính thống, tích cực, định hướng dư luận xã hội, chủ động lan tỏa nhanh những thông điệp tích cực.
Thứ sáu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, tăng cường chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng. Kế thừa, phát huy những thành tựu, kinh nghiệm đã có, kết hợp với sử dụng hiệu quả những thành tựu của công nghệ số, nền tảng truyền thông số, đa dạng hóa phương thức tiến hành công tác chính trị, tư tưởng trong cộng đồng xã hội và trên không gian mạng. Xây dựng hệ thống dữ liệu số về dư luận xã hội; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn để nắm bắt, dự báo xu hướng tư tưởng, tâm trạng xã hội. Hình thành các nền tảng số phục vụ tuyên truyền, giáo dục, tương tác với người dân, từng bước chuyển công tác tư tưởng từ “kinh nghiệm” sang “dựa trên dữ liệu”.
Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng ngang tầm nhiệm vụ. Công tác cán bộ là khâu then chốt của then chốt, cần phải chú trọng xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác chính trị, tư tưởng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới. Quan tâm xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác chính trị, tư tưởng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược, tri thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng tuyên truyền, vận động, xử lý tình huống, sử dụng công nghệ số, truyền thông số, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…, thực sự là những chiến sĩ xung kích trung thành trên mặt trận chính trị, tư tưởng của Đảng. Đồng thời, cần có cơ chế phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ phù hợp với nhân lực chất lượng cao.
Thứ tám, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đánh giá công tác chính trị, tư tưởng. Xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ số đánh giá cụ thể, định lượng; gắn trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu với kết quả công tác chính trị, tư tưởng. Tiếp tục thực hiện tinh gọn tổ chức bộ máy, tối ưu hóa hoạt động, tăng cường phối hợp giữa các ban tham mưu chiến lược của Đảng, các cơ quan báo chí, truyền thông, văn hóa, văn nghệ, khoa giáo… trong hệ thống chính trị, bảo đảm xuyên suốt, liên thông, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện hình thức, kém hiệu quả.
Những yêu cầu trên không chỉ là nhiệm vụ trước mắt, mà còn là định hướng chiến lược lâu dài. Trong điều kiện mới, công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự trở thành “trụ cột tinh thần”, “động lực nội sinh” và “lá chắn bảo vệ” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Đại tướng Trịnh Văn Quyết
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
(Theo Tạp chí Cộng sản)
--------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 73.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, tr. 76 - 77.
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, tr. 76.
